Giáo dục và Ý nghĩa cuộc sống

Giáo dục và Ý nghĩa cuộc sống

Tác giả J. Krishnamurti
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Khoa học - Giáo dục


Sách này gồm hai phần: Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống & Thư gửi trường học.

Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống, theo tài liệu để lại cho biết, đã được Krishnamurti viết dưới gốc một cây sồi già ở Ojai, California, là tác phẩm đầu tay của ông, phổ thông, phổ biến nhất, được công chúng rộng rãi đọc nhiều nhất và đã được xuất bản vào năm 1953, bởi Harper & Row, nhà xuất bản trong suốt hơn ba mươi năm liên tục xuất bản các sách của ông ở Mỹ.

Thư gởi trường học là tập hợp những thư, cứ đều đặn nửa tháng một lần do đích thân Krishnamurti viết và gửi đi các trường học do ông thành lập và được điều hành bởi các cơ sở Krishnamurti (Krishnamurti Foundation) ở Anh, Mỹ, Ấn Độ. Ta nhận thấy các tác phẩm có những tựa đề chuyên viết về giáo dục của ông như: Life Ahead, 1963 (Giáp mặt cuộc đời), Think On These Things, còn có tựa đề This Matter Of Culture 1964 (Vấn đề văn hóa), Talk With The American Students, 1968 (Nói chuyện với sinh viên học sinh Mỹ), Krishnamurti On Education, 1977 (Krishnamurti bàn về giáo dục)… là tập hợp những cuộc nói chuyện trực tiếp của ông với nhà giáo, phụ huynh và học sinh sinh viên.

Đa số các tác phẩm Krishnamurti được rút ra từ những cuộc nói chuyện, thảo luận, đối thoại, hỏi và đáp mà ông đã thực hiện với con người trên khắp thế giới. Nhưng bản văn viết của Krishnamurti là rất hiếm. Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống Thư gửi trường học nằm trong số các bản văn viết hiếm này.

Khi các trường học này hoạt động, vì không thể thường xuyên mở các cuộc nói chuyện, thảo luận các vấn đề giáo dục thiết thân của nhà trường với ban giám hiệu, thầy cô giáo và học sinh, nên ông đã nghĩ cách viết thư gửi các trường học để có thể định kỳ tiếp xúc thảo luận một cách gián tiếp với những người có trách nhiệm và hoạt động trong nhà trường. Đây có thể được xem là tác phẩm về giáo dục được viết dài ngày nhất của Krishnamurti, những thư này đã được Krishnamurti viết và gửi đi bắt đầu từ ngày 1.9.1978 và kết thúc ngày 15.11.1983.

Thực ra, nền móng và công cuộc giáo dục rất hiếm thấy, nếu không muốn nói chưa từng có, trong truyền thống lịch sử giáo dục của nhân loại do Krishnamurti phát hiện, phát động, đặt ra và quyết liệt triển khai không mệt mỏi từ hai mươi bốn năm trước, trước khi toàn bộ những tác phẩm chính thức dưới hình thức nói và viết xuất hiện.

Đó là vào ngày 2 tháng 8 năm 1929, hai mươi bốn năm trước khi Giáo dục và ý nghĩa cuộc sống ra đời (1953), chắc ta còn nhớ nhân ngày khai mạc thường niên hội trại Hội Cứu Tinh Phương Đông ở Ommen, Hà Lan, đã được thành lập năm 1911 nhằm công bố sự giáng lâm của vị Giáo chủ Thế giới và Krishnamurti đã được suy tôn làm lãnh đạo hội và giờ đây, sau mười tám năm, sức ép của sự áp đặt từ bên ngoài, cả vật chất và tâm lý, đã đủ nặng và chín muồi, bằng một động thái nhẹ tênh nhưng cực kỳ sâu sắc có sức tàn phá khủng khiếp mọi thế lực đen tối nhiều ngàn năm giam cầm trí não nhân loại, Krishnamurti đã rũ bỏ tất cả, đứng ra giải tán Hội, trước sự chứng kiến và ngạc nhiên cực độ của những người sáng lập Hội và nhiều ngàn hội viên.

Việc giải tán Hội đúng ra là việc trọng đại và khác thường đối với mọi người – đã theo ông vì thật tâm tin ông là Chúa, là Phật, là Giáo chủ Thế giới, hoặc theo ông vì động cơ danh lợi này khác – tất cả đều bị hụt hẫng, không còn chỗ dựa, nhưng đối với ông việc này là bình thường và không thể tránh, ông xem đây như là một đề tài hấp dẫn để mọi người cùng quan tâm học tập, một việc chung mà muốn sống còn thực sự, mọi người phải cùng quan tâm giải quyết, hay đơn giản như một buổi lên lớp bình thường vậy thôi. Do đó, mở đầu buổi nói chuyện giải thích lý do vì sao có việc giải tán Hội, ông nói: “Sáng nay ta sẽ thảo luận việc giải tán Hội Cứu Tinh…”

Lối hành xử của Krishnamurti, theo chỗ ta thấy, đơn giản chỉ là của một nhà giáo dục đúng nghĩa mà thôi. Và để có thể tiếp cận nền móng và giáo lý, hiểu theo nghĩa triết lý giáo dục mà Krishnamurti đề nghị đưa ra thảo luận, ta phải tiếp cận và tìm hiểu sâu hai văn bản chính thống dưới đây của Krishnamurti một cách nghiêm túc và cẩn thận, bởi vì dường như đây là cốt tủy xuất phát từ đó toàn bộ nội dung của những phát biểu viết và nói của Krishnamurti đã được triển khai suốt hơn sáu mươi năm.

* Bản văn thứ nhất:

Toàn bộ nội dung của cuộc nói chuyện chính thức đầu tiên của Krishnamurti vào ngày 2 tháng 8 năm 1929.

“Sáng nay ta sẽ thảo luận việc giải tán Hội Cứu Tinh Phương Đông. Nhiều người sẽ vui và nhiều người sẽ buồn về việc này, nhưng đây không phải là việc vui buồn, đây là việc không thể tránh như tôi sẽ giải thích.

“Chắc các bạn còn nhớ câu chuyện về vua ma cùng một người bạn đi xuống phố, họ thấy phía trước có một người dừng lại và cúi xuống nhặt vật gì đó và giấu vào túi áo. Người bạn hỏi ma vương “Người ấy nhặt vật gì vậy?” – “Anh ta nhặt một mảnh vụn Sự Thật”, vua ma trả lời. “Thế thì nguy cho ông bạn rồi,” người bạn nói – “Ồ không sao đâu,” vua ma trả lời – “Tôi sẽ để cho anh ta đứng ra tổ chức mảnh vụn đó”.

“Tôi chủ trương rằng Sự Thật là một vùng đất không có đường vào và bạn không có cách nào tiếp cận Sự Thật ấy bằng bất cứ con đường nào – bằng bất cứ tôn giáo, môn phái, giáo phái nào. Đó là quan điểm của tôi và tôi trung thành một cách tuyệt đối và vô điều kiện với quan điểm đó. Sự Thật hay Chân Lý, vì vốn vô hạn, vô điều kiện, không thể tiếp cận bằng bất cứ con đường nào, nên không thể tổ chức được cũng như không có bất kỳ tổ chức nào được thành lập, để dẫn dắt và cưỡng bách con người, dựa theo một đường lối đặc biệt nào. Nếu ngay từ đầu bạn hiểu được điều đó, bấy giờ bạn sẽ thấy không thể đem đức tin ra tổ chức. Đức tin là vấn đề thuần túy của cá nhân, bạn không thể và không nên đem đức tin ra tổ chức.

“Nếu bạn tổ chức đức tin, nó sẽ biến thành vật chết, đông cứng, trở nên cố định, biến thành tín điều, giáo điều, một tôn giáo áp đặt lên kẻ khác. Đây là việc mà mọi người trên khắp thế giới đang ra sức làm. Sự Thật đã bị hạ thấp và làm cho hẹp hòi, nhỏ nhen và biến thành một thứ đồ chơi trong tay của những con người yếu đuối bệnh hoạn, của những kẻ bất mãn nhất thời. Sự Thật không thể bị hạ thấp mà chính xác cá nhân phải nỗ lực vươn lên Sự Thật. Bạn không thể kéo đỉnh núi xuống thung lũng. Nếu ham muốn lên đỉnh, bạn phải vượt qua thung lũng, leo từng bậc lên, không e sợ vực sâu chết người. Bạn phải leo lên Sự Thật chứ không phải kéo thấp xuống hay tổ chức Sự Thật cho ngang tầm bạn được. Khai thác lợi lạc từ nơi ý tưởng đó là chủ trương chính yếu được duy trì bền vững của các tổ chức nhưng các tổ chức chỉ đánh thức hay khơi dậy lợi lạïc từ bên ngoài. Lợi lạïc không sinh ra từ tình yêu Sự Thật mà khơi dậy từ một tổ chức, lợi lạïc đó hoàn toàn vô giá trị. Tổ chức biến thành một bộ khung, một mô hình trong đó mọi thành viên của nó đều bị lồng ghép khíùt khao. Người ta không còn phấn đấu theo đuổi Sự Thật hay đỉnh núi mà tự đào khoét cho mình một hang ổ thích hợp rồi tự chôn mình vào đó hoặc để cho tổ chức chôn họ vào đó và họ cho rằng tổ chức sẽ dẫn họ đến với Sự Thật, Chân Lý.

“Đó là lý do đầu tiên, theo quan điểm của tôi, Hội Cứu Tinh Phương Đông phải được giải tán. Tuy nhiên, các bạn vẫn có thể thành lập những hội đoàn khác, bạn vẫn có thể tiếp ục gia nhập những tổ chức tìm kiếm Sự Thật hay Chân Lý khác. Riêng tôi không muốn gia nhập bất cứ tổ chức tâm linh hay tinh thần nào khác – xin vui lòng hiểu cho điều này. Tôi vẫn có thể sử dụng một tổ chức vận chuyển tôi từ đây tới Luân Đôn chẳng hạn; đây là một tổ chức hoàn toàn khác biệt, thuần túy, mang tính máy móc giống như trạm bưu điện. Tôi có thể dùng xe ca hay tàu thủy để đi lại, đây chỉ là những cơ chế thuần vật chất không có liên hệ gì với tâm linh hay tinh thần. Một lần nữa, tôi vẫn giữ vững quan điểm và xác nhận rằng không một tổ chức nào có thể dẫn dắt con người đến cõi giới tâm linh.

“Khi một tổ chức được thành lập nhằm mục đích này, tổ chức đó biến thành một nạng chống, một thứ ma túy, một tù ngục trói buộc tất phải phá hỏng và ngăn chặn cá nhân phát triển và hình thành cái nhất thể tính vốn tiềm ẩn trong động thái tự mình khám phá Sự Thật tuyệt đối không bao giờ bị qui định ấy, vậy đó là một lý do nữa khiến tôi quyết định giải tán Hội mà tôi đã từng là người lãnh đạo. Không ai thuyết phục tôi đưa ra quyết định này cả.

“Quyết định này không có gì ghê gớm, đáng ca tụng đâu, bởi vì tôi không muốn có bất kỳ ai theo tôi, và ý tôi muốn nói là thế này. Một khi bạn theo người nào, bạn không còn theo Sự Thật nữa. Tôi không quan tâm liệu bạn có để ý điều tôi nói hay không. Tôi muốn làm điều gì đó cho thế giới và tôi tập trung kiên quyết làm. Tôi chỉ quan tâm việc làm duy nhất chính yếu này: giúp con người được tự do giải thoát. Tôi muốn giải phóng con người thoát khỏi mọi chuồng giam, mọi sợ hãi, và không lập ra bất kỳ tôn giáo, môn phái mới nào, không dựng lên bất kỳ học thuyết và triết thuyết mới nào. Tất nhiên các bạn sẽ hỏi thế tại sao tôi vẫn đi và nói khắp nơi. Tôi sẽ nói lý do tại sao tôi làm thế, không phải vì tôi muốn có người theo tôi, không phải vì tôi muốn có một nhóm người đặc biệt làm môn đồ. (Con người thích mình khác với đồng loại của mình – các sự khác này thật là quái dị, phi lý và bá lập! Tôi không muốn khuyến khích sự phi lý đó) Tôi không có tông đồ, đệ tử ở trần thế hay trong cõi tâm linh nào.

“Cả sự cám dỗ của tiền bạc cùng sự khát khao sống đầy đủ tiện nghi, vật chất cũng không hấp dẫn được tôi. Nếu tôi muốn sống tiện nghi tôi sẽ không đến Trại này hay xứ sở ẩm thấp này. Tôi xin nói thẳng bởi vì tôi muốn công cuộc giải phóng này diễn ra lập tức và cho tất cả mọi người. Tôi không muốn kéo dài năm này sang năm khác các cuộc thảo luận ấu trĩ này.

“Một phóng viên báo chí, phỏng vấn tôi, cho rằng việc giải tán một tổ chức với hàng ngàn, hàng ngàn hội viên là một hành động ngoạn mục. Theo ông ấy đây là một việc làm vĩ đại và ông ấy hỏi “Nhưng rồi sau đó ông sẽ làm gì? Sẽ không còn người nào theo ông và nghe ông nữa” – Nếu chỉ cần năm người chịu nghe và sống, chịu quay mặt hướng về cái vĩnh hằng, thế cũng đủ lắm rồi. Hàng nghìn vạn người không hiểu, đầu óc đầy nghẹt thành kiến, định kiến, không muốn có cái mới mà chỉ muốn diễn dịch cái mới sao cho phù hợp với từng cái ‘tôi’, cái ‘ngã’ khô cằn, tù đọng chết tiệt của họ để làm gì chứ? Nếu tôi có nói mạnh xin đừng hiểu lầm do tôi thiếu tình thương. Nếu bạn đi đến một bác sĩ phẫu thuật, ông ấy làm đau bạn chắc không phải do thiếu tình thương phải không? Cũng tương tự vậy, nếu tôi có nói mạnh, nói thẳng, đó không phải là do thiếu lòng nhân ái – trái lại.

“Như tôi đã nói, tôi chỉ có một mục đích duy nhất: giải phóng con người, khẩn thiết thôi thúc con người tiến về hướng giải thoát giúp họ phá vỡ mọi giới hạn – chỉ có tự do giải thoát mới cho con người hạnh phúc vĩnh hằng, chỉ có tự do giải thoát mới giúp con người thấu hiểu hay tri giác một cách vô điều kiện cái tôi, cái ngã của mình.

“Bởi vì tôi tự do giải thoát một cách trọn vẹn, hoàn toàn tuyệt đối vô điều kiện – không phải chỉ một phần, không phải chỉ tương đối mà là toàn bộ Sự Thật - vĩnh hằng – nên tôi muốn những ai hiểu tôi, cũng phải tự do giải thoát, chứ không phải theo tôi, chứ không phải biến tôi thành một thứ chuồng giam, xà lim – tức trở thành một tôn giáo, hay tông phái. Họ phải hoàn toàn thoát khỏi mọi tình tự sợ hãi – sợ tôn giáo, sợ tự do, sợ cõi giới tâm linh, sợ thương yêu, sợ chết, sợ cả sống. Như một họa sĩ vẽ tranh, anh ta vẽ vì cái đẹp, vì hạnh phúc, vì muốn tự thể hiện, vậy tôi muốn làm việc này không phải vì muốn thu lợi lạïc từ bất cứ người nào.

“Bạn quen sống trong quyền lực, hay môi trường của quyền lực, bạn nghĩ quyền lực sẽ đưa bạn vào cõi giới tâm linh. Bạn nghĩ tưởng và hy vọng rằng người khác với một sức mạnh tinh thần kỳ diệu – một phép lạ – sẽ vận chuyển bạn vào cõi tự do giải thoát vĩnh hằng tức cõi cực lạc. Toàn bộ cách sống của bạn dựa trên quyền lực này. Các bạn đã nghe tôi nói ba năm rồi mà không ai thay đổi chỉ trừ một số rất ít. Bây giờ xin hãy phân tích những điều tôi nói, hãy phê phán quyết liệt sao cho bạn có thể thấu hiểu xuyên suốt và triệt để. Khi bạn trông cậy vào quyền lực dẫn dắt bạn vào cõi giới tâm linh, đương nhiên buộc bạn phải thành lập tổ chức xoay quanh quyền lực đó. Chính việc thành lập tổ chức bạn nghĩ sẽ giúp cho quyền lực dẫn đưa bạn vào cõi giới tâm linh, đã tù ngục bạn trong một chuồng giam.

“Nếu tôi có thể nói thật, xin hãy nhớ cho, tôi làm thế không phải do lòng tôi sắt đá, hung bạo, cuồng nhiệt chạy theo mục đích mà bởi vì tôi muốn bạn hiểu điều tôi trình bày. Đó cũng là lý do bạn có mặt ở đây và thật là phí thời gian nếu tôi không giải bày rõ ràng, cặn kẽ quan điểm của tôi.

“Trong mười tám năm các bạn đã chuẩn bị cho tôi sự kiện này, sự giáng lâm của vị Giáo chủ Thế giới. Trong mười tám năm các bạn lo toan tổ chức, đã trông tìm một người có thể mang lại cho tâm và trí bạn một niềm vui mới, có thể biến đổi toàn bộ cuộc sống của bạn, có thể cho bạn một trí tuệ mới có thể nâng bạn lên một bình diện sống mới, có thể ban cho bạn một sức mạnh mới, có thể giải phóng các bạn - và giờ đây, xin hãy nhìn những gì đang diễn ra. Hãy xem xét cặn kẽ, tự mình suy luận và khám phá xem bằng cách nào tin tưởng đó biến đổi các bạn khác đi – không phải khác trên bề mặt nông cạn bằng cách gắn cho bạn những nhãn hiệu - thật phi lý, bá láp. Bằng cách nào một sự tin tưởng như thế quét sạch mọi rác rưởi của cuộc sống? Đây là cách xử lý duy nhất: bằng cách nào các bạn được tự do hơn, vĩ đại hơn, nguy hiểm hơn đối với bất cứ xã hội nào được xây dựng trên sự giả ngụy và rác rưởi. Bằng cách nào thành viên của tổ chức Hội Cứu Tinh trở thành khác đi?

“Như tôi đã nói, các bạn đã chuẩn bị cho tôi trong suốt mười tám năm trời. Tôi không quan tâm bạn có tin tôi là Giáo chủ Thế giới hay không. Điều đó không có chi là quan trọng. Từ lúc bạn gia nhập tổ chức Hội Cứu Tinh là bạn đã đồng ý, đã thừa nhận Krishnamurti là Giáo chủ Thế giới – thừa nhận hoàn toàn hoặc một phần: hoàn toàn đối với những người thực sự tìm kiếm Sự Thật, và một phần đối với những ai bằng lòng với thứ sự-thật-nửa-vời của mình.

“Bạn đã chuẩn bị mười tám năm và hãy nhìn xem những khó khăn trong cách hiểu của bạn, vô vàn những phức tạp, những điều tầm thường vô nghĩa đã diễn ra, những định kiến, những sợ hãi, những uy lực tinh thần, những giáo hội mới và cũ của bạn – tôi khẳng định tất cả mọi thứ ấy đều là chướng ngại cho trí tuệ. Tôi không thể nói điều này rõ hơn được nữa. Tôi không muốn bạn đồng ý với tôi, tôi không muốn bạn theo tôi, tôi muốn bạn hiểu điều tôi nói.

“Động-thái-thấu-hiểu này là cần thiết, vì sự tin tưởng hay đức tin của bạn không làm thay đổi bạn mà chỉ làm bạn phức tạp thêm thôi và bởi vì bạn không chịu giáp mặt nhìn sự vật y như chúng là. Bạn muốn có cho riêng mình những thượng đế, thần thánh mới – thượng đế thay thượng đế cũ, những tôn giáo mới thay cho những cái cũ, những hình tượng mới thay cho cái cũ – tất cả đều vô giá trị như nhau, tất cả đều là những chướng ngại, những giới hạn, những nạng chống. Thay vì những phân biệt tâm linh cũ giờ đây là những phân biệt mới, thay vì những sùng thượng cũ, bạn có những sùng thượng

mới. Đời sống tâm linh hay tinh thần của bạn đều tùy thuộc vào người khác, hạnh phúc của bạn đều dựa vào người khác, trí tuệ của bạn đều dựa vào trí tuệ của người khác, và mặc dù các bạn chuẩn bị cho tôi mười tám năm, nhưng khi tôi nói tất cả mọi điều đó đều không cần thiết, khi tôi nói các bạn hãy phủ nhận tất cả chúng đi và nhìn thẳng vào nội tâm mình để có được trí tuệ, vẻ đẹp, sự thuần khiết và bất hoại của tự ngã thì không ai trong các bạn chịu làm. Có thể có một số ít, quá, quá ít.

“Vậy tại sao phải có tổ chức chứ ?”

“Tại sao có những con người giả ngụy, đạo đức giả ấy theo tôi – hiện thân của Sự Thật – để làm gì chứ ? Xin hãy vui lòng nhớ cho không phải tôi nói những điều khó nghe hay thiếu thiện cảm, mà ta đang ở vào một tình huống buộc phải giáp mặt với sự vật y như chúng đang là. Năm rồi tôi đã nói rằng tôi dứt khoát không thỏa hiệp. Bấy giờ có một số rất ít người đã nghe tôi. Năm này tôi đã tuyệt đối làm rõ điều đó rồi. Tôi không biết có bao nhiêu ngàn vạn người khắp nơi trên thế giới làm hội viên của Hội Cứu Tinh Phương Đông đã chuẩn bị cho tôi suốt mười tám năm dài nhưng giờ đây họ lại không muốn nghe một cách vô điều kiện, trọn vẹn những điều tôi nói.

“Vậy tại sao phải có tổ chức làm chi chứ ?

“Như tôi đã nói trước đây, mục đích của tôi là giải phóng con người một cách vô điều kiện vì tôi chủ trương rằng chỉ có tâm linh, tinh thần mới mang tính bất hoại của cái tôi, ngã, vốn vĩnh hằng, tức là sự hài hòa giữa lý trí và tình yêu. Đây là Sự Thật tuyệt đối, vô điều kiện, bất nhiễm, tự thân là Sự Sống. Cho nên tôi muốn giúp con người được tự do giải thoát vui hưởng hạnh phúc như cánh chim trong bầu trời xanh không một gợn mây, trút bỏ nhẹ tênh, không còn chỗ dựa, độc lập, cực lạc trong trạng thái tự do giải thoát đó. Và tôi – người đã được các bạn chuẩn bị trong suốt mười tám năm – giờ đây xin thưa rằng các bạn phải tự mình thoát khỏi những rắc rối, phức tạp, những cạm bẫy của chính các bạn. Để làm việc này, bạn không cần phải có tổ chức dựa trên những tín điều tôn giáo. Tại sao phải có tổ chức cho năm hoặc mười người đã hiểu, đã phấn đấu quyết liệt vứt bỏ mọi điều bá láp, vô nghĩa nói trên chứ ? Với những kẻ yếu đuối bệnh hoạn, về mặt tinh thần, không có tổ chức nào có thể giúp đỡ họ tìm thấy Sự Thật, bởi vì Sự Thật hay Chân Lý ở ngay trong mỗi người không xa không gần mà nó ở đó một cách vĩnh hằng.

“Tổ chức không làm bạn tự do giải thoát được đâu. Không người nào từ bên ngoài có thể làm cho bạn tự do, cũng như không có việc tổ chức thờ phụng nào, không có sự dâng hiến bởi bất kỳ lý do nào khiến cho bạn tự do, không có sự tự khép mình vào bất kỳ khuôn khổ của tổ chức nào hoặc sự tự dấn thân, công quả nào, có thể làm cho bạn tự do giải thoát. Bạn có thể sử dụng một máy đánh chữ để viết thư, nhưng bạn không thể đặt nó lên bàn thờ và lạy lục. Nhưng đó là việc bạn đang làm khi các tổ chức trở thành mối quan tâm chính yếu của các bạn. “Có bao nhiêu hội viên trong tổ chức đó ?” Câu hỏi đầu tiên mà tôi thường được hỏi bởi các phóng viên báo chí . “Ông có bao nhiêu đệ tử. Với số lượng người theo ông, chúng tôi có thể đoán được những điều ông nói, là chân hay giả”. Tôi không biết có bao nhiêu người, tôi không quan tâm việc đó. Như tôi đã nói nếu chỉ có một người được tự do giải thoát, thế là đủ.

“Một lần nữa, các bạn lại có ý nghĩ chỉ có một số ít người nào đó nắm được chìa khóa mở vào cõi cực lạc. Không có bất kỳ ai nắm được đâu. Không ai có quyền lực để nắm chìa khóa ấy. Chìa khóa đó chính là cái “tôi”, cái ngã của bạn tự nẩy nở, tự làm sạch và bất hoại, chỉ duy trong tâm thái đó mới là cõi vĩnh hằng.”

“Vậy bạn phải thấy sự phi lý của toàn bộ các cơ cấu bạn đã thiết lập, tức là trông cậây vào sự trợ giúp từ bên ngoài, tùy thuộc vào người khác để an tâm, hạnh phúc, có sức mạnh. Mà tất cả mọi thứ ấy chỉ có thể tìm thấy trong chính các bạn.”

“Vậy tại sao phải có tổ chức ?”

“Bạn thích nghe người khác nói bạn tiến bộ tới đâu, tới quả vị nào về mặt tâm linh. Thật là ấu trĩ. Ai, nếu không phải chính bạn có thể nói nội tâm bạn đẹp hay xấu? Ai nếu không phải chính bạn nói bạn vốn là bất hoại, không thể thối rửa? Bạn không nghiêm túc về mặt này.

“Vậy, tại sao phải có tổ chức?”

“Với những người thật sự muốn thấu hiểu, muốn khám phá cái vĩnh hằng vô thỉ vô chung, sẽ cùng làm một cuộc hành trình bằng tất cả cái tâm nồng nhiệt, sẽ là mối đe dọa đối với mọi thế lực rác rưởi, thừa thãi, giả ngụy, tăm tối. Và họ sẽ cùng ngồi với nhau, họ sẽ biến thành lửa bởi vì họ thấu hiểu! Cần phải có một số người như thế và đó là mục tiêu của tôi. Bởi vì có cái hiểu chân thực này nên mới có tình bằng hữu chân thực. Bởi vì có tình bằng hữu chân thực nên mới có sự cộng tác chân thực ở cả hai phía. Chứ không phải do uy lực, quyền lực nào cả. Chứ không phải do sự cứu rỗi, do cúng tế thờ phụng, bởi bất kỳ nguyên nhân nào cả mà bởi vì bạn thất sự thấu hiểu, và do đó đủ sức sống trong cõi vĩnh hằng. Đấy là đại sự vượt xa mọi khoái lạc, mọi hy sinh dâng hiến.

“Vậy đây là một số lý do mà sau hai năm cẩn thận xem xét, tôi đã đưa ra quyết định này. Không phải do bất kỳ động cơ nhất thời nào thúc đẩy. Không phải do bất cứ ai thuyết phục tôi đưa ra quyết định này. Tôi không bao giờ bị thuyết phục như thế đâu. Trong suốt hai năm, tôi đã chậm rãi, kiên nhẫn, cẩn thận suy nghĩ điều này và hôm nay, tôi quyết định giải tán Hội Cứu Tinh mà tôi đã từng lãnh đạo. Các bạn có thể hình thành các tổ chức khác và kỳ vọng vào người khác. Tôi không quan tâm việc đó cũng như việc tạo lập những chuồng giam mới, các cuộc trang trí mới cho các chuồng giam ấy. Mối quan tâm duy nhất của tôi là giúp con người tự do một cách tuyệt đối, vô điều kiện.”

* Bản văn thứ hai:

Sau buổi “lên lớp” ngày 2.8.1929 và những ngày tháng tiếp theo, Krishnamurti thể hiện rất rõ vai trò người thầy đầy trách nhiệm, nói và làm hoàn toàn dựa trên Sự Thật và Tự Do. Với trọng trách đó, một thân một mình, ông đi khắp thế gian, không ngừng nghỉ và không mệt mỏi, mở các cuộc thảo luận, nói chuyện và đối thoại để giúp con người thấu hiểu Sự Thật và đời sống tự do. Và từ đó hàng loạt tác phẩm của ông được hình thành rút ra từ những phát biểu nói và viết về Sự Thật và Tự Do.

Để giúp con người có thể nắm bắt trọn vẹn những điều ông viết và nói trong suốt hơn năm mươi năm sau ngày tuyên bố giải tán Hội Cứu Tinh Phương Đông, Krishnamurti đã cẩn thận đúc kết thành một bản văn gồm 230 từ và dưới đây là toàn bộ phát biểu hình thành bản văn thứ hai đã được đích thân Krishnamurti viết ra vào ngày 21.10.1980, cho tác phẩm “Krishnamurti: The Year Of Fulfilment” của Mary Lutyens, quyển sách thứ hai viết về cuộc đời và tư tưởng của Krishnamurti do nhà Ferrar, Straus & Giroux xuất bản năm 1983. Khi đọc lại, Krishnamurti có thêm một vài câu:

“Cốt tủy của giáo lý Krishnamurti chứa đựng trong phát biểu đã được ông thực hiện vào năm 1929 khi ông tuyên bố: Sự Thật là một vùng đất không có đường vào.” Con người không thế đến vùng đất ấy thông qua bất kỳ tổ chức nào, thông qua bất kỳ tín điều, giáo điều nào, thông qua bất kỳ giáo sĩ hay nghi thức lễ bái nào, thông qua bất kỳ tri thức triết học hay kỹ thuật luyện tâm nào. Mà con người phải tìm thấy Sự Thật thông qua gương soi quan hệ, thông qua động thái thấu hiểu chính nội dung của trí não mình, thông qua quan sát, chứ không phải bằng cách phân tích hay nội soi mang tính tri thức chia cắt manh mún. Con người đã thiết lập ngay trong nội tâm mình những hình ảnh tác động như một rào chắn an toàn về tôn giáo, chính trị, cá nhân riêng tư. Các hình ảnh này biểu hiện thành những ký hiệu, biểu tượng, ý nghĩa, tin tưởng. Gánh nặng của các hình ảnh này khống chế tư tưởng, khống chế cuộc sống quan hệ thường nhật của con người. Các hình ảnh này là nguyên nhân làm dấy sinh vô số những vấn đề của ta bởi vì chúng chia rẽ người và người. Tri giác của con người về cuộc sống bị quy định rập theo những khái niệm đã được thiết lập sẵn trong trí não con người. Nội dung của thức của con người là toàn bộ cuộc sinh tồn của con người. Nội dung này vốán chung đồng cho toàn thể nhân loại. Cá tính là tên gọi, hình dạng và thứ văn hóa nông cạn mà con người tiếp thu từ truyền thống và môi trường sống. Nhất thể tính của con người không nằm ở cái phần nông cạn này mà nằm ở chỗ giải thoát hoàn toàn khỏi nội dung của ý thức, vốn chung đồng cho toàn thể loài người. Vì thế, con người không phải là một cá nhân.

“Tự do không phải là một phản ứng; tự do không phải là chọn lựa. Không lấy cớ bởi vì con người có chọn lựa nên con người có tự do. Tự do là thuần quan sát, tuyệt dứt mọi mục tiêu, phương hướng, không còn sợ tội và phước, trừng phạt và ban thưởng. Tự do không do bất kỳ động cơ nào; tự do không phải ở cuối đường tiến hóa của con người mà ở ngay bước đầu của cuộc sống. Trong quan sát là bắt đầu khám phá mình thiếu tự do. Tự do được tìm thấy trong động thái giác tri không chọn lựa mọi hoạt động cuộc sống đời thường.

“Tư tưởng là thời gian. Tư tưởng được sinh ra từ kinh nghiệm và kiến thức vốn bất khả phân với thời gian và quá khứ. Thời gian là kẻ thù tâm lý của con người. Hành động của ta xây dựng trên kiến thức, tức thời gian, do đó con người luôn luôn làm nô lệ cho quá khứ. Tư tưởng bao giờ cũng bị hạn chế, do đó ta sống triền miên trong xung đột và đấu tranh. Không có sự tiến hóa về mặt tâm lý.

“Khi con người trở nên tri giác sự động đậy của chính những tư tưởng của mình, con người sẽ thấy sự chia rẽ hay nhị phân giữa người tư tưởng và tư tưởng, người quan sát và vật được quan sát, người kinh nghiệm và kinh nghiệm. Con người sẽ phát hiện rằng sự chia rẽ đó, nhị phân đó là một ảo tưởng. Bấây giờ chỉ còn là thuần quan sát, tức cái thấy sáng suốt thọc sâu vào nội tâm, tức tuệ giác tuyệt dứt mọi bóng tối phủ che của quá khứ hay của thời gian. Chính tuệ giác phi thời gian tạo ra một cuộc chuyển hóa thâm sâu triệt để trong trí não.

“Phủ nhận hoàn toàn, mới là cốt tủy của thái độ sống tích cực tuyệt đối. Chỉ khi nào phủ nhận hoàn toàn mọi tạo tác của tư tưởng về mặt tâm lý, bấy giờ mới có tình yêu, tức từ bi và trí tuệ.”

Hai văn bản nêu trên chỉ là sự mô tả thông qua từ ngữ. Krishnamurti thường nhắc ta rằng sự mô tả không bao giờ là vật được mô tả. Sự mô tả là từ. Từ không bao giờ là vật. Sự mô tả là vật chết, bất động. Vật được mô tả là vật thực, sống, sinh động. Krishnamurti yêu cầu ta khi tiếp cận các phát biểu của ông, tiếp cận từng từ ngữ ông dùng, là phải tiếp cận như tiếp cận từng sự sống, vật sống đang sinh động diễn hiện chứ không chỉ là những từ ngữ trừu tượng ảo huyền. Những điều Krishnamurti mô tả trong hai văn bản cốt yếu trên là thực trạng của chính nội tâm đang diễn hiện sinh động trong từng khoảnh khắc một không phải mới gần đây mà đã suốt dài nhiều ngàn năm qua. Theo dõi bằng quan sát, bằng nghe thấy những gì thực sự đang diễn ra bên trong ta đó là học, là tự học chính nội tâm mình, là thấu hiểu chính mình và đó là giáo dục.

“Thấu hiểu chính mình là thấu hiểu chính cuộc sống và đó là khởi đầu và chung cuộc của giáo dục.”

Quan sát chính nội tâm mình đồng thời quan sát những gì diễn ra quanh mình trên toàn thế giới cho ta có một cái nhìn đầy đủ, sắc nét toàn cảnh sống của nhân loại trên trái đất này, với nhau và với thiên nhiên, tức là thực trạng mối quan hệ giữa người và người, giữa người và thiên nhiên. Cho nên Krishnamurti nói quan hệ là giáo dục, chính xác, cực kỳ sâu sắc và quan trọng. Bởi vì trong quan hệ, ta học ở ta, ở người và ở thiên nhiên, học một cách sống động, cụ thể, chứ không trừu tượng khó hiểu như học trong sách vở. Tôi quan sát chính tôi, tôi thấy rõ tôi hơn là thấy trong sách vở, kinh điển để hiểu tôi.

Và ta thấy gì khi quan sát mối quan hệ giữa người và người, giữa người và thiên nhiên? Chỉ toàn là xung đột, chỉ toàn là bạo động. Ta bạo động với người thì người trả đũa bằng bạo động, ta bạo động với thiên nhiên thì thiên nhiên trả đũa bằng bạo động. Do đó cường độ xung đột càng lên cao và cơ hội người hủy diệt người, thiên nhiên phẫn nộ hủy diệt con người càng tiến dần lên điểm đỉnh.

Và Krishnamurti, bậc thầy trong quan sát, đã cực kỳ khẩn trương cảnh báo con người trong suốt sáu mươi năm khi ông có mặt ở đời này:

* “Xung đột là căn nguyên, là nguồn gốc đích thực của mọi vấn đề.”

* “Có thể chấm dứt mọi xung đột bên trong ta không? Đó mới đích thực là căn nguyên của vấn đề. Chấm dứt tất cả mọi xung đột” (Chất vấn Krishnamurti)

Nhưng từ đâu mà có sự xung đột triền miên bất tận này trong nội tâm con người để dẫn đến xung đột đẫm máu qua các cuộc chiến tranh gắn liền suốt lịch sử loài người? Krishnamurti nhấn mạnh: Sỡ dĩ có xung đột vì có chia rẽ. Chia rẽ dẫn đến xung đột. Sự chia rẽ này ở ngay trong tư tưởng, công cụ duy nhất mà con người có và sử dụng trong quan hệ với nhau. Do sống trong ảo tưởng con người cho rằng có sự chia rẽ giữa người tư tưởng và tư tưởng, người quan sát và vật được quan sát, giữa người kinh nghiệm và kinh nghiệm.

“Khi con người trở nên tri giác sự động đậy của chính những tư tưởng của mình, con người sẽ thấy sự chia rẽ hay nhị phân giữa người tư tưởng và tư tưởng, giữa người quan sát và vật được quan sát, giữa người kinh nghiệm và kinh nghiệm. Con người sẽ phát hiện rằng sự chia rẽ nhị phân đó là một ảo tưởng” … (Bản văn thứ hai – Cốt tủy của giáo lý Krishnamurti.)

NGƯỜI DỊCH

 

THÔNG TIN KHÁC

Về tác giả

 



Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


NHỮNG CUỐN SÁCH KHÁC TRONG TỦ SÁCH TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC Xem tất cả >>


Sách đọc nhiều nhất

Nghệ nhân và Margarita

Tác giả: Mikhail Bulgacov

Nhóc Nicolas - Trọn bộ 6 quyển

Tác giả: René Goscinny - Sempé

Nghĩa vụ học thuật

Tác giả: Donal Kennedy


SÁCH MỚI

Ý niệm đại học Ý niệm, theo đúng nghĩa, không phải là “sáng kiến” chủ quan, mà là kết quả của lao ...