Rừng người Thượng

Rừng người Thượng

Tác giả Henri Maitre
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
Dịch giả Lưu Đình Tuân
Năm xuất bản 2009
Đơn vị xuất bản Nxb Tri thức
Giá sách 95.000 VND


Đọc Les jungles moi của Henri Maitre
(Lời tựa cho bản dịch tiếng Việt)

Trong Tập Một của tác phẩm Les jungles moi (Rừng người Thượng) chúng ta được đọc về vùng Tây Nguyên như đi trong một cuộc du hành qua rừng thẳm. Nhà thám hiểm người Pháp và đoàn của ông luôn luôn di chuyển, và chúng ta đi cùng họ, vì cuốn sách được viết ở dạng nhật ký về những tranh đấu hàng ngày của đoàn du hành đương đầu với thời tiết, sông nước, địa hình, vô vàn loại cây lớn nhỏ khác nhau, và muôn loài động vật hoang dã. Những cuộc phiêu lưu này làm nên phần chính của cuốn sách. Mưa lớn thành dòng chảy xiết, đoàn người phải vượt qua, thế nhưng nhà thám hiểm lại không biết bơi: một thân tre bắc ngang, và kèm chặt giữa hai tay bơi cừ, người đàn ông Pháp này dấn thân vào dòng nước, tay nắm chặt thân tre (tr. 84). Đoàn người đi ngang một thung lũng thì bắt gặp một bầy voi hoang: Maitre quyết định không nổ súng và quân lính người Việt của ông gần tới mức kinh hoàng trong lúc chờ cho bầy voi đi qua (tr. 27). Trong tầng cây bụi rậm rạp, dây leo và mây mọc chằng chịt không tài nào phát quang nổi, một bầy “những con đỉa đê tiện” luôn chờ sẵn người và ngựa: mỗi khi phát quang xong lối đi, họ lại dừng lại để gỡ ra những quái vật này, giờ đây đã phồng căng đầy máu giữa các ngón chân và, mặc cho người ta có cẩn trọng đến đâu, cũng len lỏi đến tận “những bộ phận kín đáo nhất của thân người” (tr. 37).

Trải nghiệm đọc cuốn sách này thực sự vô cùng cuốn hút, một cách lạ lùng, tới mức kiệt sức, một phần là bởi vốn từ hết sức chính xác tỉ mỉ và những câu vừa dài vừa phức hợp, một phần cũng là do cỡ chữ nhỏ li ti trong bản gốc in bằng tiếng Pháp năm 1912. Nhưng đó chỉ là phương tiện văn chương giúp mang lại cho người đọc sự cuốn hút sâu sắc tới mức kiệt sức bởi năng lực của tác giả trong việc biểu đạt sự khó nhọc của mình một cách vô cùng sống động: những thách thức thể lý của cuộc hành trình và những đòi hỏi trí tuệ mà tác giả tự đề ra cho mình phải đạt được. Mục tiêu của Maitre không là gì khác ngoài việc tìm đến và nghiên cứu từng nơi trên miền cao nguyên và bình nguyên mà trước kia người Pháp chưa từng biết tới.

Thông qua chi tiết này đôi lúc người đọc có thể cảm nhận được sự phấn khích đầy tính học thuật của nhà du hành, nhưng ta luôn phải đối mặt với những khó khăn của ông khi phải trèo đèo, lội suối, băng sông, để tiếp tục cuộc hành trình. Vừa đọc chúng ta vừa cảm nhận rừng và mối quan hệ của người với rừng: cụ thể là, quan hệ của người đàn ông này với rừng rậm. Đôi lúc tùy chỗ ông lần theo vết đường mòn; có nơi ông lại men theo đỉnh núi, hay băng qua rừng, thích tự mình đọ sức với hoàn cảnh. Chúng ta chia sẻ với ông những giây phút hân hoan thắng lợi, như ngày ông lên tới đỉnh rừng thông Djiring (tr. 145), hoặc cuộc chạm trán của ông với người Mạ ở một miền bí ẩn nơi “khúc quành” của dòng sông Da Deung (tr. 314). Cũng có lúc ông rơi vào tâm trạng cực kỳ u uất mà không ngần ngại mô tả bằng những lời văn mang tính biểu hiện chủ nghĩa đầy chất thơ:

“Đêm nay cơn giông ầm ì ở xa rồi mỗi lúc càng đến gần; những đám mây lớn chậm chạp phủ khắp bầu trời và che lấp vầng trăng mờ tái; trên những đỉnh núi gần những ngọn lửa đỏ tựa máu của một đám cháy rừng dát vàng óng các đám mây; những tia chớp vạch ngang dọc chân trời phía Bắc trong khi, ở phía Tây, bầu trời đen như mực; trong thung lũng lửa đang lặng lẽ ngún nốt những gốc cây cuối cùng; có lúc, tiếng rống giận dữ của một con voi rừng đột ngột vang lên, nghe thê thảm trong đêm khuya, và, trong cái bóng đêm dày đặc, gió gầm gào và trăm nghìn mối đe doạ của rừng núi rình rập bốn bề, ta bổng bị xâm chiếm bởi một cảm giác đơn độc cùng cực, quạnh hiu tuyệt đối và, bị cắt đứt hoàn toàn với thế giới chung quanh, ta có cái cảm giác kỳ lạ bị bỏ quên, lạc loài, mất hút giữa một xứ sở trong mơ có thể sẽ chẳng còn bao giờ thoát ra được ...”

Những mô tả về tự nhiên mang màu sắc của chủ nghĩa biểu hiện cũng không hẳn quen thuộc với độc giả: chính vì vậy chúng càng làm ta thêm kiệt sức. Hơn thế nữa, thi thoảng ngoại trừ một vài nhà sinh học đam mê và những người gắn bó với rừng, ít ai trân trọng tới 350 trang sách chỉ mô tả về cây. Thế nhưng, nhờ có dạng nhật ký của cuốn sách, những trang chúng ta đọc được về thảm thực vật giữa các làng lại cho ta một bức tranh thuyết phục về những ngọn đồi này: chúng ta vào rừng và gặp những cư dân thưa thớt của nó, sống ở những làng ngăn cách nhau bởi các chuyến đi không phải đo bằng khoảng cách mà bằng số ngày phải trải qua. Từ đó dẫn ta tới hai hiểu biết về cuốn sách. Điều thứ nhất được chuyển tải thông qua những chi tiết: nỗ lực phi thường của tác giả trong việc thu thập tư liệu và trình bày trong sách. Điều thứ hai biểu hiện ở tiêu đề sách: con người của núi đồi chính là một phần của bối cảnh rộng lớn hơn và chủ đề chính, thế giới rừng xanh bao la.

Thám hiểm rừng được xen kẽ với các cuộc chạm trán với con người, và những dấu vết họ để lại trong môi trường: những đường rừng bị ngăn lại bởi mạng lưới những bẫy chông nhọn sắc có thể xuyên đứt gót chân; những ngôi làng, đã bị bỏ hoang hay đang có người cư trú, đón tiếp với mức độ nồng hậu hoặc hằn học khác nhau. Trong những trang viết này, nhiều khi các cuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua gần như không một lời bình luận. Thường thì tác giả chỉ ghi lại thật đơn giản (như ở trang 53), rằng khi đến một ngôi làng, “sự đón tiếp thân thiện và những người bản xứ cho tôi  những thông tin chính xác nhất về vùng này.” Đôi chỗ, ghi chép của ông chỉ rất sơ lược: “Từ B. Pang Xim - làng thứ hai có cùng tên - chúng tôi đi về hướng Đông Bắc, đến B.B.Nding; một lần nữa rừng lại vây chặt chúng tôi” (tr. 47) và đó là tất cả những gì chúng ta biết được về cả hai nơi cứ trú đó trong lúc ta tiếp tục cuộc hành trình qua cây rừng. Ở đây, mối quan tâm chính của Maitre là những rặng đồi với những triền cỏ và “từng mảng rừng”, là mưa, là đỉa, và sự kiệt sức của đoàn ngựa cùng “những chỗ rách nát rất đáng ca cẩm” của đôi giày duy nhất còn lại của mình (tr. 48).

Khi Maitre nấn ná ở chủ đề về con người, chúng ta được biết những chi tiết về nhà ở và quần áo, những đoạn tường trình về phong tục và đời sống vật chất của họ; thông qua nhiều phiên dịch, nhà thám hiểm tìm đường đi cho giai đoạn tiếp theo của cuộc hành trình và những chỉ dẫn, cung ứng, súc vật và người khuân vác đi theo đoàn. Chúng ta được biết (ở trang 139), rằng ở một làng M’Nông, thóc lúa được cất giữ dưới ba dạng tích trữ khác nhau: một chiếc chòi lớn cất cao khỏi nền đất, những gùi tre để trên sàn trong nhà (là dạng khổng lồ của “những bao đựng bằng giấy màu vàng mà những người bán hàng thực phẩm của chúng ta vẫn dùng”), và trên gác áp với mái nhà. Ngược lại, ở một làng vùng Đồng Nai thượng, khắp mọi nơi người ta trưng bày những bộ phận khác nhau của thú rừng: xà nhà nào cũng có xương đầu của lợn lòi và hươu, bên cạnh những mảnh da, chân và sừng tê giác. Những vật này cùng với rất nhiều cung tên, ống đựng tên, và những mũi giáo đã dẫn Maitre đến kết luận rằng đây là quê hương của một cộng đồng những người đi săn (tr. 171). Ông đã đến thăm thác nước Lieng Gung, một nơi cấm kị khủng khiếp kể từ xa xưa khi một số người Prum “sống ở phía bên kia dòng D. Deung” dẫn một nhóm người da trắng tới, khiến thần linh nổi giận và trừng phạt bằng cái chết: mãi sau này Maitre mới biết rằng Prum là cách người Thượng gọi người Chăm, và những kẻ xấu số có thể là người Ả-rập từ Yemen... (tr. 56).

Dân làng, gắn với nhau trong những mối ràng buộc vô cùng phức tạp, thường ngạc nhiên mỗi khi nhà thám hiểm xuất hiện. Một số nơi tỏ ra hiếu khách, một số nơi khác khước từ không chịu “chấp thuận và giao nộp,” và nhiều khi giữa các nhóm dân cư nổ ra tranh luận xem có nên nghênh tiếp hay khước từ kẻ xâm phạm. Đi tới đâu Maitre cũng quyết tâm gây dựng quan hệ, và ông có trong tay nhiều phương tiện thuyết phục khác nhau: nếu như những lời hùng biện hoặc những món quà hào nhoáng không đủ để lấy lòng, ông tìm đến vũ lực. Và thế là khi tới Ban Pou Sra, một làng M’Nong giàu có Maitre đã gặp trên đường từ lúc đầu cuộc hành trình, nơi chủ làng “có một thẩm quyền nhất định trong vùng” (tr. 24), chủ làng giải thích một cách khiêm tốn và giả đò ngây thơ rằng làng của ông rất nghèo, không có cỏ, thóc lúa, gà lợn; và ông ta không thể phục tùng; ông ta có thể sẵn sàng chỉ đường cho khách viếng thăm đi qua làng nhưng không thể cho phép dựng trại. Maitre trả lời với những lập luận ông nghĩ rằng sẽ thuyết phục, biếu những món quà hy vọng làm xiêu lòng, nhưng gặp phải sự “ngoan cố trong im lặng” của chủ làng và đối mặt với nỗi nhục bị khước từ ngay trong những ngày đầu tiên của cuộc hành trình. Ông bèn ra lệnh cho lính chặn cửa. Sau một giờ cầm tù, chủ làng đành khuất phục, rồi nghi lễ đã được cử hành và đôi bên trao đổi quà tặng: về sau, một đồn Pháp sẽ được xây dựng ngay tại làng này, và được đặt tên của nhà thám hiểm sau khi ông chết. Rồi tiếp sau nữa, tên gọi đó lại bị bãi bỏ, và một con đường trong thành phố Ban Mê Thuật kế bên sẽ mang tên người đàn ông đã giết Maitre, Nơ Trang Lơn, người bị chính quyền thực dân coi là tội phạm, rồi trở thành anh hùng sau cách mạng.

Trong những cuộc gặp gỡ này, chúng ta hiểu được đôi điều về mối quan hệ của nhà du hành với những người mà ông nghiên cứu. Chính những gì họ không muốn giao nộp thì ông lại nhằm đoạt lấy: đôi khi là bởi đoàn của ông hết thức ăn, nhưng chủ yếu vẫn là để thiết lập thẩm quyền cá nhân của ông, và quyền lực của nước Pháp. Có lần, bạo lực vận vào chính ông: sau khi giao chiến trên hiên một ngôi nhà, nhà hám hiểm đã bị rìu chém vào đùi (tr. 21). Nhưng thường thì sự có mặt của quân lính với súng ống cũng đã đủ sức thuyết phục.

Lời tựa của cuốn sách cho chúng ta biết, cũng như những nhà thám hiểm khác lên cao nguyên, rằng sứ mệnh của Maitre là một sứ mệnh của chính quyền. Được chính quyền thực dân giao nhiệm vụ và đài thọ, cuộc thám hiểm này chính thức do chính phủ Đông Dương lãnh đạo: Maitre không phải là một kẻ ‘hành hương’ theo đuổi mối đa cảm đầy chất nghệ sĩ như Pierre Loti, mà là một nhà thám hiểm với nhiệm vụ mô tả đất nước và “kể cho chúng ta về các cư dân ở đó”. Lời tựa này, do cựu Bộ trưởng Thuộc địa Pháp viết, đã khẳng định rõ - mặc dù có lẽ không có chủ đích - những mâu thuẫn nội tại trong thế đứng của Maitre. Rõ ràng ông là một viên chức của chính phủ, nhưng đồng thời cũng là một nhà khoa học với sự mẫn cảm sâu sắc đối với “xứ sở trong mơ” của mình, và cảm xúc chân thành giành cho xứ sở ấy. Những phẩm chất này, như lời vị bộ trưởng cho chúng ta biết, giành để phục vụ nước Pháp.

Tương tự, Maitre cũng bộc lộ bản thân mình trong lời đề tặng cuốn sách: với ý thức đầy trách nhiệm, ông đã cảm ơn người bảo trợ của mình, Khâm sứ Cao Miên đã tạo điều kiện thực hiện cuộc hành trình, đồng thời ông cũng thú nhận rằng:

“Trong suốt hai năm đầy những khám phá hấp dẫn, những hành trình không ngừng nghỉ và bền bĩ ấy, tôi đã say đắm đến tận cùng vẻ đẹp sâu xa của những vùng rừng kín bưng; trên các đầm lầy và các dãy núi dốc đứng, trong những khu rừng thưa mênh mông bất tận, trên những cao nguyên vun vút ngọn gió phóng túng, tôi đã được biết niềm tự do tuyệt đối, vô tận, niềm kiêu hãnh sâu xa làm bay bổng tâm hồn những nhà khám phá.”

Maitre một viên chức chính phủ với tình yêu tự do, Maitre một nhà khoa học phục vụ chủ nghĩa thực dân: cả hai đều trong cùng một người đàn ông là Maitre, và chúng ta có thể suy ngẫm liệu có phải sự pha trộn giữa khoa học và vũ lực, mà chúng ta gặp phải trong Tập đầu, đã dẫn tới cái chết của ông vào năm 1914. Ông chết trong tay chính những người ông tới để nghiên cứu, để làm bạn nhưng cũng để cai trị, chính họ là những người thoạt đầu ông mang đến cho nền văn minh Pháp, rồi tiếp đó đến lượt ông lại hối tiếc trước nền văn minh đang qua đi của họ.

Như vậy, Tập Một của tác phẩm là lời ngợi ca của Maitre giành cho rừng, và sự có mặt của ông trong đó. Ông giành lại những chi tiết dân tộc học, chỉ điểm thảng hoặc trong hồ sơ về sự di chuyển của ông trong rừng. Câu chuyện là về chính ông: đó là chuyện kể về Henri Maitre và rừng của Henri Maitre. Vì lý do này mà Tập Một không được dịch ra ở đây.

Tập Hai, lần đầu tiên xuất bản bằng tiếng Việt, được viết dựa trên những ghi chép của Maitre ở cao nguyên và nghiên cứu thư viện sau khi ông trở về. Nếu như trong Tập Một, ông viết từ góc độ chủ quan, thì ở Tập Hai, ông chuyển sang trình bày một cách khách quan những gì mình nhìn thấy. Nếu như Tập Một là về Maitre, thì Tập Hai là về rừng núi, và trên hết là con người sống trong đó. Chúng ta có được bản dịch là nhờ công lao động của dịch giả Lưu Đình Tuân, và nỗ lực hiệu đính của nhà văn Nguyên Ngọc: thành tựu của họ thật đáng nể, vì trong cả hai tập sách, tác giả sử dụng một thứ tiếng Pháp vô cùng tinh tế và phức tạp, thực sự thách thức việc chuyển sang bất cứ một ngôn ngữ nào.

Trong Tập Hai, Maitre không còn trình bày câu chuyện của chính mình nữa mà giành trọn mình cho khoa học. Dù sao trong khi thực hành công việc học thuật ông cũng không thể tránh khỏi những chủ quan nhất định của thời đại của mình, bởi những khoảng trống trong hiểu biết của ông, chế độ chính trị đương thời, và sự khan hiếm của những nghiên cứu đi trước: công trình của mỗi học giả, trong một mức độ nào đó, chính là nỗ lực vượt ra khỏi những chủ quan của chính mình. Thế nhưng, xem xét kỹ phương pháp luận của ông - nhiều trong số đó có tính cách tân ở Đông Nam Á đương thời - cho phép chúng ta kết luận rằng đó là một cuộc kiếm tìm chân lý khoa học nghiêm túc và chân thành, với kỹ năng cao. Kết quả - giờ đây đã gần trăm tuổi - chính là và vẫn là một nghiên cứu tổng quát không chỉ đầu tiên mà còn chất lượng nhất về Tây Nguyên trong số những gì đã xuất bản. Chất lượng công trình của ông thỏa mãn được, có lẽ còn sâu sắc hơn cả những cuộc hành trình của ông, ước vọng rằng những ai đi sau ông sẽ là người đến sau. Đôi chỗ trong Tập Một, trong lúc liên hệ đến những khó nhọc của hành trình, ông đã phô trương “niềm kiêu hãnh” là người châu Âu đầu tiên đặt chân lên miền đất này. Thông qua những nỗ lực trí tuệ thể hiện trong tác phẩm được dịch ra ở đây, có phần khiêm tốn hơn, ông gắng đảm bảo sao cho những nhà nghiên cứu cao nguyên trong tương lai sẽ phải đi theo những dấu chân khoa học của mình.

Trước hết và trên hết, Les jungles moi dựa trên sự kết hợp giữa các phương pháp khoa học bao gồm nghiên cứu thực địa và khảo cứu tư liệu. Điều này thể hiện rõ ngay từ cấu trúc của tác phẩm, chia làm hai tập: một tập mang tính chủ quan và dựa trên quan sát, một tập mang tính khoa học và phân tích. Nhưng ngay ở trong Tập Hai, những tư liệu thu thập được trong cuộc khảo sát của ông cũng được so sánh đối chiếu với những công trình đã xuất bản của những nhà du hành, những chuyên luận lịch sử và những biên niên bản địa khác nếu như những công trình này đã được dịch sang tiếng Pháp.

Thứ hai là, cuốn sách không chỉ cho chúng ta một cái nhìn lướt qua cao nguyên trong một thời điểm lịch sử cụ thể, như những công trình của những nhà du hành khác. Phần đầu tiên của Tập Hai là một nghiên cứu địa lý hoàn chỉnh về vùng Tây Nguyên và nam Trường Sơn. Phần hai là một nỗ lực nhằm phân loại cư dân cao nguyên thành những nhóm theo ngôn ngữ-dân tộc một cách khoa học. Và phần thứ ba là một công trình độc đáo về hợp thể lịch sử, dẫn tới công trình lịch sử dân tộc đầu tiên được viết về cao nguyên Việt Nam, Campuchia, và Lào. Công trình Những người con của núi của Gerald Hickey, được giới phê bình ở Hoa Kỳ hoan nghênh ngay khi sau khi xuất bản vào năm 1982, dựa vững chắc trên mô hình, cả về phương pháp lẫn nguồn, của phần lịch sử này trong Tập Hai: so sánh hai cuốn sách với nhau cho thấy rõ Hickey vay mượn nhiều cấu trúc từ công trình của Maitre đưa vào công trình của mình.

Như vậy là, dựa trên nghiên cứu ít tính khoa học hơn rất nhiều so với những gì chúng ta có ngày nay, Maitre gắng đạt được một nghiên cứu tổng hợp không phải về một dân tộc ở một vùng hoặc một nơi chốn cụ thể, mà là tất cả các dân tộc ở miền cao nguyên và trong mọi thời kỳ lịch sử, đặt trong bối cảnh tự nhiên của chúng: núi rừng. Đơn cử một trong những thành tựu chính mà ông đạt được, đó là thiết lập nên hệ phân loại ngôn ngữ-dân tộc cơ bản cho cư dân trong vùng. Sự phân loại này đã được phát triển và cải thiện thông qua nghiên cứu trong thế kỷ 20, và công trình của Maitre chỉ là một điểm khởi đầu. Thế nhưng hậu thế chưa hề phủ nhận phương pháp cũng như tiếp cận của ông đối với chủ đề này.

Với những ý nghĩa trên, đóng góp của Tập Hai cho hiểu biết khoa học của chúng ta về cao nguyên thực là đáng kể. Tất nhiên không tránh khỏi những khiếm khuyết và thiếu sót. Chẳng hạn, Maitre không phân tích một chút nào về niềm tin tôn giáo của người Thượng. Có những lúc vị thế của ông với tư cách một viên chức chính phủ đã lấn vào nghiên cứu, làm lệch lạc đi những quan điểm trong đó. Đánh giá về một số nhân vật quan trọng nhất định trong xã hội người Thượng khác với ngày nay. Nhưng bất luận những khiếm khuyết này, công trình khoa học của Maitre vẫn được dẫn dắt chủ yếu bởi phương pháp khoa học.

Như chúng ta đã thấy, phương pháp khoa học đó được sử dụng để phục vụ cho chủ đích thực dân của Pháp: tri thức của Maitre nhằm để cung cấp cho chính quyền thực dân sử dụng. Chúng ta cần nhớ điều này trong lúc đọc cuốn sách này, và vận dụng những nhận định khoa học của mình để đánh giá công trình của Maitre. Với một số tương đối ít các thiếu sót nói trên, hội đồng biên tập đã quyết định xuất bản toàn bộ bản dịch của cuốn sách này, tránh phá vỡ cấu trúc của nó, để giúp người đọc tự đưa ra những ý kiến của mình về công trình của Maitre ở dạng chỉnh thể. Tuy nhiên, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng cuốn sách này được viết trong một thời đại khác và phản ánh tư duy của thời đại đó: với tư cách một tài liệu lịch sử, nó không đại diện cho quan điểm của hội đồng biên tập.

***

Ở trang cuối cùng của Tập Một, Maitre bàn về một dự án của Pháp đã thất bại: xây dựng đường sắt đáng lẽ ra sẽ nối giữa Sàigòn và Djiring, Lang Biang, Đắk Lắk và Phú Yên. Thay vào đó, ông đề xuất một dự án dựa trên những khám phá của mình khi đi qua Thủ Dầu Một, Hớn Quản, thung lũng sông Bé và sông Đồng Nai để tới Đắk Lắk và thung lũng sông Ba. Ông cũng biết rằng đề xuất của mình đã quá muộn, vì chính quyền thuộc địa đã từ bỏ ý định xây dựng đường sắt trên cao nguyên để xây dựng một đường ven biển, qua Phan Thiết và Nha Trang. Nhưng những dòng cuối cùng của cuốn sách đặt ra một câu hỏi rất đáng nói:

“Từ Sài Gòn đến Qui Nhơn theo sợi dây thẳng tắp trương cánh cung khổng lồ của bờ biển An Nam, theo lối băng xuyên vùng hinterland Mọi Nam Kỳ, Cao Miên và An Nam, sẽ là một con đường chiến lược tuyệt vời và lý tưởng biết bao, cuối cùng sẽ mở toang những tổng hẻo lánh nhất và hoang dã nhất, cho phép khai thác nguồn lâm sản giàu có, các khả năng nông nghiệp và khoáng sản của vùng này! Một con đường huyết mạch quý giá biết dường nào, nhưng giờ đây ai là người sẽ xây dựng nó?”

Ở đây, tác giả đứng ở đầu thế kỷ 20 nhìn về phía trước. Một thế kỷ sau nhìn lại, chúng ta biết câu trả lời cho câu hỏi này và nhiều vấn đề khác liên quan đến cao nguyên. Cuốn sách của Henri Maitre cho chúng ta một hiểu biết sâu sắc về một thời đại đặt ra nhiều câu hỏi và những câu trả lời đã dần trở thành hiện thực. Với ý nghĩa đó, vì mỗi cuốn sách không chỉ nói về quá khứ mà còn nói với tương lai, Les jungles moi thực sự là một công trình ghi dấu cho núi rừng, con người và nền văn minh vùng Trường Sơn Tây Nguyên.

Andrew Hardy
Huyền Chi dịch



Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


NHỮNG CUỐN SÁCH KHÁC TRONG TỦ SÁCH TÂY NGUYÊN Xem tất cả >>


Sách đọc nhiều nhất

Nghệ nhân và Margarita

Tác giả: Mikhail Bulgacov

Nhóc Nicolas - Trọn bộ 6 quyển

Tác giả: René Goscinny - Sempé

Nghĩa vụ học thuật

Tác giả: Donal Kennedy

Chiến tranh và Hòa bình

Tác giả: L. Tolstoi

Suối nguồn

Tác giả: Ayn Rand


SÁCH MỚI

Ý niệm đại học Ý niệm, theo đúng nghĩa, không phải là “sáng kiến” chủ quan, mà là kết quả của lao ...