Câu đố Jrai

Câu đố Jrai

Tác giả Nguyễn Quang Tuệ
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
Đơn vị xuất bản Nxb Đà Nẵng


Người Jrai ở Gia Lai vốn sở hữu một kho tàng văn học dân gian phong phú, được lưu truyền với những hình thức diễn xướng sử thi (hơri, khan), sinh hoạt ca hát (adôh), lời nói vần (pơđok)… Câu dố Jrai hay sinh hoạt đố dân gian người Jrai gọi là pơđao (người Bahnar Gia Lai gọi là pơđâu, người Êđê Đăk Lăk gọi là klei mđăo, người Chăm gọi là panwơc pađau). Pơđao cũng có nơi gọi là glông pơđao, mơđao, đăo, đa, pơn, bơn...là một hình thức giải trí mang tính trí tuệ cao của đồng bào dân tộc. Câu đố Jrai tồn tại độc lập với những đặc trưng riêng của một thể loại văn học dân gian khá độc đáo và có ý nghĩa khá quan trọng trong sinh hoạt tinh thần của người Jrai.

Trên lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu, câu đố người Việt ít nhiều có những thành tựu với những công trình đã công bố như Tục ngữ phong dao (Nguyễn Văn Ngọc, 1928), Thai ngữ phổ thông (Nguyễn Văn Xứng, 1949), Câu đố câu thai (Phạm Văn Giao, 1956), Câu đố Việt Nam (Ninh Viết Giao, 1958), Thai đố phổ thông (Từ Phát, 1971), Văn học dân gian (Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, 1973)[1], Câu đố Việt Nam (Nguyễn Văn Trung, 1983). Năm 2005, Tổng tập văn học dân gian người Việt[2], Tập 3, Câu đố do PGS.TS Trần Đức Ngôn biên soạn được xuất bản. Đây là cuốn sách tập hợp được nhiều nhất các đơn vị câu dố của người Việt trong các tư liệu thành văn từ trước đến nay với 3.559 câu. Năm 2007, Triều Nguyên cho ra mắt Câu đố người Việt (2 tập)[3] tập hợp 2.000 câu đố, trong đó có 1.300 câu đã được công bố trong các công trình trước đây.

Về câu đố của các dân tộc, thành tựu sưu tầm còn “khiêm tốn” hơn so với câu đố người Việt như Tục ngữ-dân ca- câu đố Chàm (Lưu Văn Đảo, 1991, 60 câu đố), Câu đố Tày-NùngTục ngữ và câu đố Mông (Lê Trung Vũ, 1994, 147 câu đố), Văn học dân gian Chăm tục ngữ thành ngữ câu đố (Inrasara, 1995, 66 câu đố), Câu đố Thái (Hoàng Trần Nghịch, 1997, 276 câu đố), Tục ngữ câu đố dân tộc DaoMột số tục ngữ, câu đố H’mông Lào Cai (Lý Seo Chúng, 1999, 64 câu đố), Dân ca Mông Hà Giang, Tập 1 (Hùng Đình Quý, 2000, 34 câu đố), Tục ngữ, câu đố, đồng dao Mường (Bùi Thiện, 2004, 84 câu đố), Ca dao-Tục ngữ-Thành ngữ-Câu đố Chăm (Inrasara, 2006, 71 câu đố), Câu đố tục ngữ dân ca dân tộc Dao (Đỗ Quang Tụ, Nguyễn Liễn, 2007)...Năm 2008, Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tập 2, Tục ngữ, Câu đố do PGS.TS Trần Thị An chủ biên ra mắt bạn đọc, giới thiệu 1.739 câu đố của các dân tộc: H’mông (82 câu), Bana (21 câu), Tà Ôi (19 câu), Raglai (6 câu), Mạ (21 câu), Tày-Nùng (745 câu), Dao (146 câu), Jrai (363 câu), Chăm (93 câu), Mường (96 câu), Thái (126 câu), Pà Thẻn (3 câu), Sán Dìu (4 câu). (Hoàng Tuấn Cư, Mông Ký Slay, 1993, 482 câu đố), (Trần Hữu Sơn, 1999, 186 câu đố).

Trong khi đó, vấn đề nghiên cứu, sưu tầm câu đố Jrai gần như còn bỏ ngõ. Trước năm 2005, việc sưu tầm câu đố dân gian của người Jrai trên địa bàn tỉnh Gia Lai chưa thu lượm được kết quả bao nhiêu. Cuốn Văn học dân gian Gia Lai (Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Gia Lai, 1996) chỉ có 4 câu đố Jrai lần đầu tiên được công bố, do số lượng quá ít nên được xếp chung với “Thơ ca dân gian”. Tập Trò chơi dân gian, chuyện, thơ, câu đố, câu nói vần, bài hát (Sở Giáo dục và Đào tạo Gia Lai, 2003), loại tài liệu dành cho mẫu giáo 5 tuổi người Jrai thì cũng chỉ giới thiệu hơn 10 câu đố song ngữ, nhưng một số câu lại trùng với tài liệu vừa nói ở trên. Có thể nói, sinh hoạt đố Jrai chưa từng được khảo tả, nội dung chưa được sưu tầm một cách bài bản và chúng cũng chưa được biên dịch, sắp xếp theo các tiêu chí khoa học.

Đến nay, Nguyễn Quang Tuệ lại vừa cho xuất bản quyển Câu đố Jrai (Nxb Đà Nẵng, 2008, giải nhì B của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam năm 2007) khá dầy dặn với gần 500 trang. Đây là công trình được anh tiến hành lặng lẽ, âm thầm trong suốt 10 năm qua, với hàng trăm chuyến điền dã qua những buôn làng trên đất Gia Lai.

Mở đầu là phần Tiểu luận với 60 trang. Ngoài việc giới thuyết về tình hình nghiên cứu câu đố ở Việt Nam nói chung cũng như việc sưu tầm, nghiên cứu câu đố Jrai trên địa bàn Gia Lai nói riêng, tác giả đã xác định được đối tượng sưu tầm, nghiên cứu và quan trọng hơn nữa đã đặt sinh hoạt đố dân gian Jrai trong môi trường diễn xướng của nó. Nội dung, phân loại và hình thức của câu đố Jrai được trình bày khá thấu đáo, giúp người đọc có cái nhìn sáng rõ về một loại hình văn học dân gian đầy sức sống nhưng lại hình như còn ít biết đến trên mảnh đất này.

Nội dung câu đố Jrai phản ánh hầu hết các vấn đề, các khía cạnh liên quan đến cuộc sống của đồng bào từ ngàn xưa đến nay. Họ thường đố nhau về các loại cây con, đồ vật, thiên nhiên, sinh hoạt lao động...

Kế thừa những thành tựu của người đi trước và căn cứ vào cơ sở thực tế, tác giả đã phân loại câu đố Jrai thành 7 nhóm khác nhau: Thực thể và hiện tượng tự nhiên; Thời gian, Con số; Thực vật; Động vật, Hoạt động của động vật và các sự vật liên quan; Đồ vật; Người và bộ phận cơ thể người; Sinh hoạt, lao động sản xuất, vui chơi. Trong mỗi nhóm lớn lại chia thành nhiều nhóm nhỏ, được xếp theo thứ tự chữ cái mà vật đố trong lời giải câu đố đó bắt đầu (tiếng Việt). Cách phân loại câu đố này có thể nói là một sáng tạo của tác giả. Tuy nhiên, đôi chỗ tác giả vẫn lúng túng trong cách phân loại, vì khó xác định xếp một “sự vật” này vào nhóm này hay nhóm kia thì hợp lý hơn.

Quý nhất là phần Sưu tập với 1.150 câu đố được in song ngữ Jrai-Việt, có những câu lại có nhiều lời giải. Các câu đố này được sắp theo thứ tự các chủ đề đã nêu ở trên và có mục lục tra cứu ở cuối sách, cũng sắp theo chủ đề và bằng cả hai thứ tiếng, nên việc tìm kiếm rất thuận lợi. Ở những câu khó hoặc “có vấn đề”, tác giả còn chú giải về nội dung câu đố, chú thích cẩn thận về từ ngữ, so sánh những câu tương đồng của các dân tộc khác (cả câu đố của nước ngoài), địa điểm sưu tầm (tên huyện), tên người đố, cách dịch...

Với cách thức sưu tầm rất công phu, biên soạn khá khoa học, Câu đố Jrai như một viên ngọc quý trong khu vườn văn học dân gian của các dân tộc anh em trên đất nước ta, đặc biệt là ở Tây Nguyên, là một việc làm thiết thực góp phần tích cực vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.

Có lợi thế là biết tiếng dân tộc, say mê điền dã lại rất chịu khó học hỏi, hy vọng Nguyễn Quang Tuệ sẽ còn tiến xa hơn nữa trên con đường nghiên cứu văn hóa dân gian, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học dân gian ở Gia Lai như 12 công trình về sử thi, truyện thơ, dân ca Jarai và Bahnar mà anh đã công bố trong những năm qua.

Nguyễn Thanh Lợi


[1] Có 17 trang dành cho câu đố trong bộ sách này. Năm 2003, khi tái bản lần thứ 7, phần nội dung câu đố trong sách này vẫn như bản in lần đầu.

[2] Gồm 19 tập, do Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian tổ chức biên soạn trong 2 năm 2001-2002.

[3] Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế. Tập 1 về tự nhiên, tập 2 về văn hóa.



Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


NHỮNG CUỐN SÁCH KHÁC TRONG TỦ SÁCH TÂY NGUYÊN Xem tất cả >>


Sách đọc nhiều nhất

Nghệ nhân và Margarita

Tác giả: Mikhail Bulgacov

Nhóc Nicolas - Trọn bộ 6 quyển

Tác giả: René Goscinny - Sempé

Nghĩa vụ học thuật

Tác giả: Donal Kennedy

Chiến tranh và Hòa bình

Tác giả: L. Tolstoi

Suối nguồn

Tác giả: Ayn Rand


SÁCH MỚI

Ý niệm đại học Ý niệm, theo đúng nghĩa, không phải là “sáng kiến” chủ quan, mà là kết quả của lao ...