Nhà Rông Tây Nguyên - Rông Community Hall in the Central Highlands of Viet Nam

Nhà Rông Tây Nguyên - Rông Community Hall in the Central Highlands of Viet Nam

Tác giả Nguyễn Văn Kự & Lưu Hùng
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
Dịch giả Lê Gia Kiên & Văn Thị Thanh Bình
Năm xuất bản 2007
Đơn vị xuất bản Nxb Thế giới
Giá sách 250.000 VND


Cuốn Nhà rông Tây Nguyên là bước tiếp nối tất yếu cuốn Nhà mồ Tây Nguyên (tác giả: Nguyễn Văn Kự - Lưu Hùng, NXB Thế giới, 2002) để, như nhiều bà con Tây Nguyên vẫn tâm tình: “Tâm linh người chết đã được đối xử tốt như thế trong nhà mồ, thì tâm linh người sống cũng cần được đối xử như thế và hơn thế nữa trong nhà rông”.

Nói đến Tây Nguyên, hầu như bao giờ người ta cũng nghĩ ngay đến nhà rông. Nhà rông là một trong những di sản văn hóa rất tiêu biểu và đặc thù ở một số dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, đặc biệt ở Bắc Tây Nguyên và miền núi 2 tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên - Huế. Giáo sư Hà Văn Tấn viết: “Người ta nhận thấy nhà rông có nhiều chức năng giống với đình, như trụ sở của bộ máy quản trị buôn làng, nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, nhà khách, câu lạc bộ”. Có thể còn hơn thế nữa, nhà rông còn là nơi chuyển giao kinh nghiệm sống lâu đời từ thế hệ này sang thế hệ khác, và là trung tâm cố kết bền chặt cộng đồng làng.

Như trong một chuyến tham quan đặc biệt, cuốn sách này lần lượt đưa ta đi qua và dừng lại ở 66 ngôi nhà rông, cho phép ta tham dự một phần cuộc sống của những cộng đồng chủ nhân của nhà rông, cả bên trong lẫn bên ngoài không gian nhà rông. Người đọc có thể khám phá, tìm hiểu, so sánh, suy ngẫm về sắc thái văn hóa đặc sắc bậc nhất của miền đất kỳ diệu này. Đưa ta đi từ tộc người này đến tộc người khác, hết làng này sang làng khác, cuốn sách sẽ cho ta thấy rõ sự phong phú và đa dạng về kiểu dáng, về kết cấu nhà rông, đồng thời cũng giúp ta hiểu sâu hơn những đặc điểm chung vốn là đồng nhất trong truyền thống văn hóa lâu đời của lâu đời của nhiều dân tộc ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Cuốn sách cũng không tránh né những chuyển động và thách thức mới đang đặt ra đối với nhà rông nói riêng và văn hóa Tây Nguyên nói chung, tạo cơ hội để độc giả tiếp cận và suy nghĩ về vấn đề du nhập những yếu tố mới, hiện đại và đa tạp đang diễn ra trong thực tế đời sống xã hội ở vùng đất cổ truyền này.
 
Nguyễn Văn Kự

TRÍCH DẪN ĐẶC SẮC

Nhà rông, hồn của làng

Nói đến Tây Nguyên, hầu như bao giờ người ta cũng nghĩ ngay đến nhà rông. Quả thật đây là đặc sản của vùng đất này, thậm chí còn đặc sản hơn cả cồng chiêng, cồng chiêng nhiều nơi khác cũng có, còn nhà rông thì ngoài Tây Nguyên không còn tìm thấy ở đâu khác nữa. (Nếu còn có thì, lạ thay, lại ở... đôi hòn đảo tít tắp trên Thái Bình dương mênh mông. Vì sao vậy? Nguyên câu hỏi đó thôi cũng đã lạ lùng và hấp dẫn biết bao rồi!)... Hùng vĩ mà duyên dáng, uyển chuyển và thâm trầm, nhẹ nhàng mà uyên bác, vững chắc như lưỡi rìu dựng ngược sắc lịm và vạm vỡ, bay bổng tựa cánh buồm lớn lướt đi trên nền xanh thẳm rập rờn của rừng..., có thể không bao giờ hết được ngạc nhiên trước kiến trúc tuyệt diệu này của những tộc người ta vẫn thường ngỡ rất mộc mạc, giản đơn. Cho nên hẳn còn cần rất nhiều công trình giới thiệu và nghiên cứu về thành tạo văn hóa kỳ thú này của một vùng văn hóa cũng vào loại kỳ thú nhất trên đất nước ta. Cuốn sách các bạn đang cầm trong tay đây của các tác giả Nguyễn Văn Kự và Lưu Hùng, cộng tác cùng một số chuyên gia khác - theo chỗ tôi được biết, cũng đều là những người bị Tây Nguyên "mê hoặc" - là thêm một bước mới trong chuỗi tìm tòi đó, cố gắng tương đối có hệ thống hơn, cung cấp một cái nhìn khái quát, đồng thời đi sâu mô tả và phân tích các dạng nhà rông khác nhau, đặc biệt các tác giả đã dành nhiều trang cho các ảnh vừa chặt chẽ và nghiêm túc tính khoa học vừa giàu chất nghệ thuật, thật đẹp và thật lạ. Với cuốn sách này trên tay, bạn đang được mời vào một cuộc du ngoạn lý thú, có thể khiến bạn say mê mà cũng có thể sẽ gợi cho bạn nhiều suy nghĩ sâu xa.

Để hiểu nhà rông, có lẽ trước hết cần hiểu, dầu chỉ là trên những nét khái quát nhất, về một thiết chế xã hội cơ bản của Tây Nguyên, vốn chính là cái nền móng từ đó mới sinh ra và tồn tại nhà rông: Làng.

Như chúng ta thường nghe nói, người Tây Nguyên có tính cộng đồng rất cao. Cần nói rõ hơn chút nữa: tính cộng đồng ấy trước hết và chủ yếu là cộng đồng làng. Chỉ cần chú ý đôi chút đã nhận ra ngay điều này: trong nhiều ngôn ngữ của các dân tộc Tây Nguyên, không tìm thấy từ chỉ một đơn vị xã hội cao hơn làng: Buôn trong tiếng Ê-đê, Boon trong tiếng Mnông, Plây trong tiếng Ba-na hay Gia-rai, Veil trong tiếng Cơ-tu v.v. đều có nghĩa là làng. Trước đây cũng có thể gặp từ T'ring chỉ một kiểu liên minh của vài hay nhiều làng, nhưng đấy là những liên minh trong những thời gian thường không dài để cùng nhau đối phó với những trở lực nhất thời nào đó, khi trở lực đó được giải quyết xong thì liên minh này cũng không còn, và không thấy có tổ chức hành chánh, xã hội tương đương. Cao nhất ở đây là làng, cổ truyền là vậy, và vẫn còn rất đậm cho đến tận hôm nay. Đối với người Tây Nguyên, quê hương, và từ đó, dân tộc, đất nước, Tổ quốc nữa, trước hết là làng. Đương nhiên trong thời hiện đại, nhất là trong cuộc đấu tranh chung cùng các dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam chống ngoại xâm suốt gần thế kỷ qua và trong xây dựng ngày nay, người Tây Nguyên có ý thức hơn về một Tổ quốc Việt Nam thống nhất, song điều ấy không hề mâu thuẫn, trái lại về mặt nào đó còn làm đậm hơn ý thức về làng của họ. Trong thực tế, trong hai cuộc chiến tranh giải phóng vừa qua, sức mạnh của các dân tộc ở Tây Nguyên đã được phát huy đến tối đa chính là vì công cuộc vận động quần chúng kháng chiến ở đây đã thấu hiểu sâu sắc và biết tận dụng một đặc điểm hết sức cơ bản của con người Tây Nguyên là tính cộng đồng làng rất cao. Chiến tranh, ở vùng này từng dữ dội và kéo dài là vậy, vẫn không lay chuyển được cái cốt lõi của làng; những chuyển động xã hội sau chiến tranh đã gây rất nhiều xáo động, nhưng chính trong những điều kiện này càng có thể nhận ra một điều hết sức đáng chú ý: dù có khi không còn tồn tại một cách cụ thể vật chất nữa, thì làng về cơ bản vẫn không mất, ý thức (và cả một kiểu tổ chức âm thầm nhưng dai dẳng nào đó, chẳng hạn chế độ già làng, hội đồng già làng, luật tục của làng, các sinh hoạt tinh thần và tâm linh của làng theo vòng đời con người hay theo chu kỳ sản xuất v.v.) vẫn còn, bền chặt, sâu sắc một cách kỳ lạ, vẫn phát huy hiệu lực trong mọi mặt đời sống hằng ngày, chẳng gì xóa đi nổi và cũng chẳng gì thay thế được. Làng vẫn tồn tại như là đơn vị cơ bản của đời sống con người ở đây, dù ta có hiểu và có công nhận nó hay không; khi ta hiểu, tôn trọng thực tế, biết vận dụng nó thì mọi công việc ở đây đều thuận lợi và dễ thành công, còn khi ta quên hay coi thường nó thì hầu như bao giờ cũng tất yếu thất bại, hoặc kết quả chỉ hời hợt bên ngoài, không bám sâu được vào đời sống thực của con người, và hoàn toàn không bền vững.

Mặt khác, trong xã hội này ý thức cá nhân cũng chưa phát triển, hoặc ít ra chưa định hình rõ rệt. Gặp tình cờ một người Tây Nguyên và bất chợt hỏi: Anh hay chị tên gì?, ta thường nhận được câu trả lời bật ra tức thời: Tôi là người của làng A hay B nào đó. Trước hết là làng. Gạn hỏi kỹ hơn nữa, người ta mới nói: Tôi tên là X hay Y ở làng A hay B. Vẫn không quên được làng. Vậy đó, đối với người Tây Nguyên, làng là đơn vị cao nhất và cũng thấp nhất; con người là một tế bào nhỏ gắn bó máu thịt của một cơ thể hoàn chỉnh, thống nhất và bền chặt là làng. Không có con người tách ra khỏi làng. Chỉ có con người bị hoà tan và tự hòa tan trong làng, bị nhấn chìm và tự nhấn chìm mình trong làng. Làng là lẽ sống, là hạnh phúc, là tất cả đối với con người. Còn hơn thế nữa, không có làng thì hầu như con người không còn là người. Ở Tây Nguyên hình phạt nặng nề nhất, nổi đau khổ và nhục nhã lớn nhất đối với một người là bị đuổi ra khỏi làng, bị cộng đồng làng từ bỏ, bị loại ra khỏi cộng đồng làng. Trong trường hợp cùng cực đó sinh linh ấy sẽ bị mất luôn cả tính người. Làng đuổi một con người ra khỏi cộng đồng của mình cũng đồng nghĩa là đuổi nó ra khỏi loài người. Con người đó sẽ bị rơi trở lại vào tình trạng hoang dã, như con thú, lang lang trong rừng, trở nên điên dại, rồi chết vùi trong đó. Chính làng làm cho con người thành người, thành văn hóa... Cũng có thể chú ý chẳng hạn điều này nữa: ở Tây Nguyên một người chết ở ngoài làng của mình thì bị coi là một cái chết xấu, chết dữ, linh hồn sẽ không được đi theo những chặng đường chuyển hóa bình thường mà tốt đẹp của những hồn người được chết một cách tự nhiên. Cho đến thi hài cũng không được chôn trong khu nhà mồ chung của làng. Tức làng không chỉ là đơn vị cơ bản của cuộc sống ở thế giới này, nó còn kéo dài sang cả thế giới bên kia; không chỉ là đơn vị xã hội hiện thực mà còn là đơn vị tâm linh, hoặc cũng có thể nói cách khác, không chỉ là không gian, mà còn là thời gian, là không-thời-gian vĩnh hằng, tồn tại vô cùng sinh động trong vòng tuần hoàn bất tận của sự tử sinh...

Vậy đó, làng không chỉ là nơi cư trú, cũng không chỉ là nơi đảm bảo những điều kiện sống nào đó của con người. Còn sâu hơn rất nhiều, làng làm cho con người thành người, là người, thành văn hóa, là sinh linh có bản chất văn hóa. Và bây giờ thì ta đã có thể nói thế này: cái bản chất văn hóa hết sức đặc trưng đó của Tây Nguyên có một biểu hiện vật chất tập trung nhất, tiêu biểu nhất: đấy chính là nhà rông. Nhà rông sinh ra từ trong bản chất văn hóa đó của xã hội Tây Nguyên, để “thực hiện” cái bản chất văn hóa đó. Nó là "nhà văn hóa" của các cộng đồng làng Tây Nguyên, theo nghĩa toàn diện, sâu sắc, uyên thâm nhất, và có lẽ cũng cổ xưa và cơ bản nhất của khái niệm văn hóa và nhà văn hóa.

Nhà rông là linh hồn của làng. Ở Tây Nguyên, người ta gọi một ngôi làng không có nhà rông là “làng đàn bà”, tức cũng gần như nói một cái làng chưa ra làng, chưa xứng đáng là làng. Đấy mới chỉ là một tập hợp rời rạc những cái nhà chưa có hồn, trong đó chứa những sinh linh cũng chưa có hồn, chưa thật sự là con người, bởi người ta chỉ thành người khi được thổi vào đấy hồn người, mà như đã nói ở trên, hồn người đối với người Tây Nguyên thì phải là hồn làng. Khi lập một làng mới, tức là sự kiện trọng đại nhất trong đời sống cộng đồng, những người già nhất trong làng, từng trãi và hiền minh nhất, gắn bó và nhiều kinh nghiệm nhất về núi rừng, là pho sử sống của cộng đồng, thay mặt làng đi tìm đất, chọn vị trí đẹp nhất cho làng. Và trong cái “quy hoạch” của làng mới đó, thì quan trọng nhất là chọn vị trí đặt nhà rông. Có nhà rông thì mới thật sự là làng. Làng bắt đầu bằng nhà rông, sinh ra cùng nhà rông, nói theo một cách nào đó thì nó đồng nhất với nhà rông. Đặt nhà rông cũng tức là đặt trái tim cho cơ thể làng, trái tim ấy bắt đầu đập, truyền máu đi khắp cơ thể làng, kết nối tất cả lại và thổi sự sống vào cho nó trở thành một cộng đồng không gì phá vỡ được.

Nhà rông là nơi diễn ra toàn bộ đời sống cộng đồng làng. Nơi đêm đêm, ngay từ tấm bé, đứa trẻ đã được theo cha hay mẹ đến dự những buổi tụ hội cả làng quanh bếp lửa, ở đó những thế hệ con người Tây Nguyên, bằng các cuộc trò chuyện, các cuộc ca hát, chơi đùa, thậm chí cả la đà bên ché rượu cần..., truyền cho nhau, từ đời này sang đời khác, tiếp nối không ngừng, kinh nghiệm sống và làm người giữa chốn rừng núi vừa bao dung vừa dữ dội và khắc nghiệt này: cách đi săn con thú trong rừng, cách tỉa lúa trên rẫy, cách xem trời nắng mưa, cách sống với rừng và với người, cách ứng xử với người già, người trẻ, người quen, người lạ, với bạn với thù, với người còn sống và người đã chết, với con người và với thần linh... Và tất nhiên, cả cách yêu đương, nên vợ nên chồng... Nơi dân làng hội họp để bàn bạc dân chủ và Hội đồng Già làng quyết định mọi việc lớn nhỏ liên quan đến đời sống của làng. Nơi diễn ra các lễ hội tưng bừng và tiến hành các nghi lễ tín ngưỡng thâm trầm. Nơi đêm này qua đêm khác, có khi kéo dài đến hàng chục đêm, những người già hát kể cho con cháu nghe những bản trường ca về những người anh hùng huyền thoại và về sự hình thành vũ trụ cùng sự sống trên trái đất này... Đây cũng là nơi làng tiếp đãi khách, tức là ngôi nhà đại diện của làng giao tiếp với thế giới bên ngoài. Nhà rông còn đặc biệt là nơi ngủ bắt buộc của tất cả thanh niên chưa có vợ trong làng: bởi họ là lực lượng trực chiến của làng, sẵn sàng bảo vệ làng chống lại mọi cuộc tiến công đến từ mọi phía. Chính vì vậy, trong làng nhà rông thường đứng ở vị trí cao nhất, có thể phát hiện kẻ thù đến từ xa, là chỉ huy sở của các cuộc chiến đấu bảo vệ làng ...

Một cộng đồng người cần có bao nhiêu điều kiện để tồn tại như một cộng đồng thuần nhất, thì nhà rông đảm nhiệm bấy nhiêu chức năng, đầy đủ, sâu sắc, toàn vẹn.

Nhà rông có tự bao giờ và vì sao? Cho đến nay hình như chưa có ai trả lời cụ thể được câu hỏi đó. Còn đối với các cụ già Ba-na thì trong những đêm kể trường ca hầu như bất tận ở nhà rông, các cụ có câu trả lời đầy tin tưởng của họ, và quả thật rất lạ: hóa ra lịch sử nhà rông Tây Nguyên, theo niềm tin của các cụ, lại trùng khớp một cách tuyệt vời với... Tháp Babel và cả trận Đại Hồng thủy của Kinh Thánh!

Các cụ kể rằng thuở ban đầu tất cả mọi người đều là con cháu của Bok Xơ-gơr. Một hôm những người con của Bok Xơ-gơr, chắc là trong một lúc cao hứng, quyết định dựng một căn nhà thật lớn, thật cao, cao nhất trên thế gian này, mái lẫn vào tận trong những "đám mây đen gây mưa", cũng tức là theo cách hiểu của họ, cao đến tận trời, đứng trên nóc nhà ấy thì với tay là có thể chạm được tới trời. Người con trai trưởng chỉ huy công trình và mọi người đều tham gia; công việc tiến triển nhanh. Sườn nhà được dựng lên, và người con trưởng leo lên nóc, ra lệnh vang vang; giọng anh giống như tiếng gió bão. Nhưng khi anh cần và yêu cầu dây mây thì đám em út và con cháu ở bên dưới lại đưa lên cho anh một cây kèo nhỏ. Anh bực mình, ném cây kèo xuống và lại đòi dây mây; nhưng mọi người lại đưa cho anh một sợi thừng. Cứ thế, chẳng còn hiểu ra sao cả... Giận quá chừng, anh chửi mắng đám con cháu, nhưng ai cũng phá lên cười, vì chẳng ai còn hiểu anh nói gì nữa, ngôn ngữ bỗng lẫn lộn lung tung hết cả. Tức điên người lên, người con trưởng của Bok Xơ-gơr nhảy từ trên mái xuống, vớ lấy một cây gậy nện cho các em trai, em gái và các cháu một trận nên thân. Tránh đòn, mọi người chạy tứ tán ra khắp nơi. Một số nói tiếng Ba-na chạy tới xứ Ba-na, những người khác thì sinh ra người Xơ-đăng, người Rơ-ngao, người Gia-rai, người Ê-đê, người Ca-dong, người Mạ v.v.. Người con trưởng ở lại với bố mẹ, trở thành gốc của dân Việt. Chính họ là hậu duệ của người con trưởng...

Ở vùng Gia-rai, câu chuyện này có khác đôi chút. Thời bấy giờ, tức là thuở khai thiên lập địa, Plây Kơteng, gần Plây Khuen (hình như ở vùng Ayun Pa thuộc tỉnh Gia Lai ngày nay), là trung tâm của thế giới. Chính tại đây, sau trận Đại Hồng thủy, Bok Xơ-gơr còn sống và sinh con đẻ cháu, loài người ngày càng đông lên, vả lại đã có kinh nghiệm của trận lụt lớn tai hại, họ bèn quyết định xây một chiếc tháp cao ngất trời. Tháp cao đến mức người ta phải giữ nóc bằng những sợi dây mây rất dài. Một vị thủ lĩnh trèo lên đấy để quan sát khắp vũ trụ.

- Phía mặt trời mọc, ông ta kêu to, ta nhìn thấy một đồng bằng đẹp đẽ, ở gần biển; ta lại thấy một đồng bằng khác ở hướng mặt trời lặn, cạnh một con sông lớn...

Ông ta không nói thêm được gì nữa, vì đúng lúc đó, chiếc tháp đổ sụp và nhân vật xấu số rơi xuống chết. Vội nhanh chân lao đến những vùng đất tốt lành nọ trước tiên, người Việt và người Lào đã buông tất cả những sợi dây mây. Người Ba-na và người Gia-rai, vốn lờ vờ và thích vui chơi, còn mãi nhởn nhơ nhai mía và chẳng nghe thấy gì cả. Đến khi họ muốn lắng nghe thì đã quá muộn: các ngôn ngữ bỗng nhiên lẫn lộn lung tung. Không biết đi về đâu nữa, họ đành phải ở lại tại chỗ... Những người ở lại tại chỗ chính là người Tây Nguyên bây giờ. Và nhà rông Tây Nguyên ngày nay là dấu vết của cây tháp nguyên thủy nọ...

Tất nhiên đấy là những truyền thuyết đẹp đẽ và thơ mộng. Nhưng, như chúng ta biết, những truyền thuyết cũng có thể là một kiểu "ký ức" mơ hồ và huyền ảo nào đó của con người về những thuở xa xăm mịt mù. Riêng với chúng ta, hẳn khó lòng mà không thể không đặt ra câu hỏi: tại sao lại có sự gặp gỡ lạ lùng đến giữa "lịch sử" nhà rông trong tâm trí những con người trong rừng sâu hẻo lánh Tây Nguyên hôm nay với truyền thuyết Babel tận bên trời Tây xa xôi? Có mối liên hệ nào đây của những bộ phận cách xa nhau đến thế của loài người, có những dòng chảy nào đây của con người và của văn hóa từ những thuở cực kỳ xa xăm?...

Vậy đó, nhà rông Tây Nguyên, cũng như chính Tây Nguyên, rất hiện thực, mà cũng rất huyền ảo. Đã có thể hiểu được nhiều điều về vật thể văn hóa kỳ thú này của Tây Nguyên, mà cũng còn bao nhiêu điều chưa thể hiểu, cần hiểu thấu thêm nữa, thậm chí có thể bất tận về nó.

Ngay các tác giả cuốn sách này, theo chỗ tôi được biết, cũng còn chưa muốn coi đây là công trình tâm huyết cuối cùng của mình về Tây Nguyên và nhà rông Tây Nguyên. Đây là một bước cố gắng thêm, nối tiếp những công trình công phu của nhiều người đi trước, mà cũng mong được coi là một gợi ý, gợi cảm hứng cho những công trình nối tiếp nữa, hoàn chỉnh hơn, sâu hơn, uyên bác hơn. Để xứng đáng với một đặc sản văn hóa tuyệt vời mà các dân tộc Tây Nguyên đã đóng góp cho sự giàu có và đa dạng của văn hóa các dân tộc trên đất nước ta.

Tháng 6 - 2006

Nhà văn Nguyên Ngọc



Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


NHỮNG CUỐN SÁCH KHÁC TRONG TỦ SÁCH TÂY NGUYÊN Xem tất cả >>