Ngày đăng : 23/04/2015

Người Giới Thiệu: Nguyễn Quang Diệu

Việt sử diễn nghĩa

Việt sử diễn nghĩa

Tác giả Tôn Thất Hân – Hồng Nhung & Hồng Thiết
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
Dịch giả Phan Đăng
Năm xuất bản 4/2015
Đơn vị xuất bản Công ty sách Khai Tâm & Nxb Khoa Học Xã Hội
Giá sách 189.000 VNĐ
Số trang 575

 

Cùng với các bộ sử Thiên Nam ngữ lụcThiên Nam minh giámĐại Nam quốc sử diễn ca… bộ Việt sử diễn nghĩa được viết bằng chữ Nôm ra đời vào đầu thế kỷ XX là sự kế thừa và tiếp nối truyền thống phổ biến lịch sử đến đông đảo quần chúng dưới dạng thể tài sử ca. Đáng tiếc là cho đến tận bây giờ bộ sử này vì nhiều lý do vẫn chưa được biết đến một cách rộng rãi.

Có thể nói qua vài điểm chính về bộ Việt sử diễn nghĩa:

– Đây là sách lịch sử, viết về lịch sử Việt Nam từ họ Hồng Bàng cho đến hết nhà Hậu Lê, kết thúc với việc đưa hài cốt Lê Chiêu Thống từ Trung Quốc về nước (thế kỷ XXIX trước Công Nguyên – TCN – đến đầu thế kỷ XIX);
– Đây là tài liệu độc bản, bản viết tay được viết bằng chữ Nôm, đang được lưu trữ ở Huế;
– Sách lịch sử nhưng được viết theo dạng thơ, cụ thể là thơ lục bát, gồm 1884 câu;
– Các tác giả (3 vị Tôn Thất Hân – Hồng Nhung & Hồng Thiết) đều là quan lớn của triều đình nhà Nguyễn;

Bố cục của cuốn sách như sau: Phần dẫn nhập: Việt sử diễn nghĩa: Bộ sử ca cuối thời Nguyễn; phần phiên âm chính văn Việt sử diễn nghĩa bằng thơ lục bát, liền sau đó có xen phần chú giải bằng văn xuôi của các tác giả, dưới cùng là những chú thích công phu của dịch giả; tiếp đến là nội dung Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca (phần rút gọn của bộ Việt sử diễn nghĩa, gồm 808 câu thơ 4 chữ. Phần này do hai anh em Hồng Thiết & Hồng Nhung biên soạn); và sau cùng là nguyên bản chữ Nôm bộ Việt sử diễn nghĩa để bạn đọc đối chiếu khi cần..  

Bộ sử ca Việt sử diễn nghĩa với được các ông hoàng nhà Nguyễn viết vào đầu thế kỷ XX, tầm 1907-1916, đến khoảng 1926 thì cơ bản là hoàn chỉnh. Bộ sử ca này vốn được lưu trữ ở thư viện gia đình Lục Khanh, tức nhà của Hồng Thiết. Sau được cất giữ ở chùa Từ Quang, một ngôi chùa có quan hệ mật thiết với phủ Tuy Lý. Dịch giả Phan Đăng (Thừa Thiên – Huế) đã tìm thấy bộ sách ở đó gần 40 năm trước.

Việt sử diễn nghĩa được viết nhằm phổ biến lịch sử nước nhà đến mọi tầng lớp xã hội dưới dạng thơ ca (dễ nhớ, dễ đi vào lòng người…). Tên sách được thay đổi qua vài lần, từ Lịch đại Việt sử diễn nghĩa từ, rồi Việt sử lịch đại quốc âm ca và cuối cùng là Việt sử diễn nghĩa.

Việt sử diễn nghĩa gồm 4 quyển: Quyển nhất: Đầu từ Kinh Dương vương đến Trần Thuận Tôn; Quyển hai: Đầu từ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, đến năm đầu thời Lê Trang Tôn trung hưng; Quyển ba: Từ Lê Trung Tôn đến Lê Đế Phường; Quyển bốn: Từ Lê Hiển Tôn đến Lê Mẫn Đế.

Có thể tạm chia nội dung Việt sử diễn nghĩa ra 4 thời kỳ: 1. Thời mở nước (thế kỷ XXIX đến thế kỷ II TCN): Từ họ Hồng Bàng đến khi nhà Hán xâm lược (từ câu 1 đến câu 36: 36 câu); 2. Thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc (111 TCN - 939): Từ Hai Bà Trưng đến thời thuộc Đường (câu 37 đến câu 120: 84 câu); 3. Thời xây dựng nền độc lập tự chủ (thế kỷ X đến thế kỷ XI): Từ Ngô Quyền đến hết nhà Tiền Lê (từ câu 121 đến câu 206: 86 câu); 4. Thời hưng thịnh và phát triển (thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIX): Từ nhà Lý đến khi Nguyễn Ánh lập nên triều Nguyễn vào năm 1802 (từ câu 207 đến câu 1884: 1678 câu).

Việt sử diễn nghĩa gồm 1884 câu thơ lục bát được viết liền mạch từ đầu đến cuối; không phân chia thành từng đoạn mục; không có tựa, bạt và dẫn và cũng không có phần mở đầu và kết thúc như một số tác phẩm diễn ca lịch sử đã có trước đó. Trong quá trình phiên âm và chú giải, dịch giả Phan Đăng đã chia Việt sử diễn nghĩa thành 4 phần như vừa nói ở trên cho bạn đọc tiện theo dõi.

Cần nhấn mạnh là bộ sách được viết bởi các ông hoàng nhà Nguyễn, cho nên cách nhìn nhận về những nhân vật, sự kiện lịch sử mang đậm dấu ấn chính trị, kiểu tôn vinh những gì thuộc về triều đại mình hay chịu những tư duy quen thuộc của dân gian… Ví như dùng các từ Tây, giặc Tây, Huệ... để gọi Tây Sơn trong khi đó gọi triều Nguyễn bằng những từ tôn xưng kính cẩn (triều ta, đức Triệu tổ ta...); hoặc phê phán và lên án các tập đoàn phong kiến Mạc - Trịnh:

Đăng Dung từ chốn Cổ Trai,
Vào kinh bức đế nhường ngôi tức thì.
Lên ngôi Hoàng đế trị vì,
Vua cùng Thái hậu thí đi liền ngày.
Trải xem soán đoạt xưa nay,
Khi nhân quả phụ cô nhi rõ ràng.
Ăn cơm ngọc, mặc áo vàng,
Giàu sang trước mắt, vênh vang trong mình.
(c. 769-776)

Trịnh Tùng bạt hỗ trăm phần,
Vua Lê quyền bính hao lần còn chi.
Đến năm Kỷ Hợi mùa hè,
Trịnh Tùng ý muốn tiếm vì tước vương.
Khiến người tấu đối đủ đường,
Vua Lê phải chịu sai quan phong liền.
Lập vương phủ, đặt quan riêng,
Triều đình chính lệnh cầm quyền một tay.
(c. 989-996)

Các tác giả cũng miêu tả khá chi tiết bản chất cũng như thái độ của họ Mạc, họ Trịnh:

Đăng Dung di giá Bảo Châu,
Trong ngoài quyền bính tóm thâu một mình.

(c. 733-734)

Thế Tôn thơ ấu biết chi,
Trịnh Tùng bạt hỗ gian khi khôn cùng.

Tự gia Đô tướng tôn sùng,
Triều đình chính lệnh ngoài trong một mình.                                     
(c. 855-858)

Trịnh Tráng lòng đã chẳng ngay,
Cơ mưu trí thuật cũng tay gian hùng.

(c. 1059-1060)

Các tác giả đã dành những câu chữ trang trọng để miêu tả công lao của Nguyễn Kim trong việc phò Lê diệt Mạc:

Triều ta Triệu Tổ thế thần,
Chí đồ diệt Mạc trung hưng Lê triều.

Lánh mình qua nước Ai Lao,
Kinh luân thảo muội gian lao trăm bề.
Trang Tôn vốn thật dòng Lê,
Rước về ủng lập quyết bề tiến chinh.
Đánh cùng tướng Mạc Đăng Doanh,
Lôi Dương một trận Mạc binh chạy dài.
Nghĩa kỳ hưởng ứng trong ngoài,
Bốn phương hào kiệt ai ai cũng mừng.                                
(c. 781-790)

Hoặc dùng từ Tôn công… để gọi Tôn Sĩ Nghị

Tôn công nghe nói tỏ tường,
Tâu cùng Thanh đế quyết đường tiến chinh.

Rằng: An Nam vốn đất mình,
Ai cho Nguyễn Huệ tung hoành một phương!
(c. 1743-1746)

Hoặc việc Hồ Quý Ly chống Minh thất bại, hai cha con bị nhà Minh bắt là do ăn ở trước sau không phải đạo[1]:

Quý Ly tiếm vị thiền truyền,
Cha con sau trước chẳng tuyền bảy năm.

Đạo trời báo phục khôn lầm,
Thề sao như vậy thật nhằm chẳng sai.
(c. 487-490)

Tuy nhiên các tác giả vẫn có những cái nhìn khách quan về từng sự kiện, con người; không vì những thiên kiến ấy mà làm mất đi tính khách quan của lịch sử, ví như đề cao Nguyễn Huệ với trận phá quân Mãn Thanh:

Binh oai nổi tiếng xa gần,
Trường khu thẳng tới Trịnh binh ruổi dài.

(c. 1437-1438)

Huệ truyền lệnh đến ngày mai,
Cho voi đi trước, quân bồi theo sau.
Rạng đông đến trước lũy Tàu,
Huệ ra giục trống trận đầu đốc quân.
Mãn Châu thiết kỵ thành quần,
Voi rào rào tới, ngựa lần lần lui.
Đều vào nơi lũy Ngọc Hồi,
Bốn bề phát súng, trong ngoài trở chông.
Huệ truyền thừa thắng xung phong,
Toóc rơm lăn trước, bác đồng kéo sau.
Xông vô tên đạn đánh nhào,
Phá tan đồn lũy độ đâu mấy giờ.
Huệ quân khi ấy thừa cơ,
Đồng lòng hết sức khu trừ đôi nơi.
Thanh triều tướng soái chạy dài,
Hanh, Long, Thăng, Đống mấy người quyên khu.
(c. 1781-1796)

[…]

Bộ sách thuật lại khá chi tiết giai đoạn xuất hiện và những mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến, bộ sách cũng cho thấy rõ những rối ren của xã hội, phản ứng ngày càng mạnh của nhân dân và sự bất lực của các tập đoàn phong kiến trước những vấn đề cấp bách của đất nước.

Sau khi hoàn thành Việt sử diễn nghĩa, hai anh em Hồng Thiết & Hồng Nhung biên soạn tiếp phiên bản Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca, có thể download bản Nôm tại đây: http://www.trangnhahoaihuong.com/phpWebSite/index.php?module=documents&JAS_DocumentManager_op=viewDocument&JAS_Document_id=2. Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca có thể nói là bản tóm tắt của Việt sử diễn nghĩa, sách gồm 808 câu loại thơ 4 chữ với mục đích sao cho dễ đọc, dễ nhớ, như một bài đồng dao lưu truyền trong dân gian. Theo như lời bà Công Tôn Nữ Hiệp Văn (nay đã 104 tuổi, Thừa Thiên – Huế), con gái của Hồng Thiết cho biết là sau khi hoàn thành Việt sử diễn nghĩa tứ tự ca, ông buộc con, cháu, chắt, kể cả người giúp việc trong gia đình hơn trăm người đều phải học thuộc sách này.

Bên cạnh việc dịch mới toàn bộ 808 câu thơ 4 chữ theo nguyên tác chữ Nôm, dịch giả Phan Đăng có tham khảo và đối chiếu với 3 bản dịch đã có trước đó (bản của Gs. Nguyễn Văn Sâm – Nguyễn Hữu Vinh gồm đầy đủ 808 câu, có thể đọc tại đây: http://www.trangnhahoaihuong.com/phpWebSite/index.php?module=pagemaster&PAGE_user_op=view_page&PAGE_id=8; bản chép từ lời đọc của hai bà Công Tôn Nữ Hiệp Văn – Công Tôn Nữ Tịnh Hảo, bằng trí nhớ, vốn thuộc lòng từ bé, đã đọc cho chép lại, bản này chỉ có 804 câu; bản của Nguyễn Phúc Bửu Diên – Phạm Thị Hoàng Oanh công bố ở San Jose năm 2004, bản này chỉ có 796 câu). Dịch giả làm chú thích rõ những chỗ khác nhau về câu chữ, cách phiên âm... giữa 4 bản để cung cấp cho bạn đọc một cái nhìn đầy đủ về bộ sách này. Ở góc độ văn bản học thì phần khảo dị này có thể nói việc làm rất hữu ích.

“Quá khứ một dân tộc chính là lịch sử của dân tộc đó, quá khứ một con người cũng chính là tiểu sử của con người ấy. Vậy nên, để bước vào tương lai, không ai được phép quên quá khứ của mình và của cả dân tộc mình.” Và “khi tất cả những cái khác đã mất thì tương lai vẫn còn.” – Bovee. Với tinh thần đó, cá nhân tôi nghĩ rằng việc khảo cứu, dịch thuật và phát hành bộ sách này để cùng nhau lưu trữ là điều cần thiết và nên làm dù rất khó đạt mục tiêu kinh doanh.

Nguyễn Quang Diệu

 


[1] Năm Thuận Tôn Quang Thái thất niên (1894), Thượng hoàng truyền vẽ Tứ phụ đồ (tranh vẽ bốn bậc phụ chính trung thần nổi tiếng trong lịch sử phong kiến Việt Nam và Trung Quốc: Tô Hiến Thành giúp Lý Cao Tông (VN); Chu Công giúp Thành Vương, Hoắc Quang giúp Chiêu Đế và Gia Cát Lượng giúp Hậu Chúa (TQ)). Thượng hoàng Trần Nghệ Tôn ban tranh Tứ phụ cho Hồ Quý Ly nhằm nhắn nhủ Quý Lý hãy noi gương trung thành của bốn người ấy mà giúp rập vua Trần Thiếu đế. Thượng hoàng dặn Quý Ly rằng: nhà ngươi phò con ta cho như làm vậy. Sau lại đòi Quý Ly vào cung nói rằng: Việc nhà nước lớn nhỏ ta giao cho ngươi hết. Ta nay già yếu, ngày sau con ta phò đặng thì phò, bằng ngu thì cho làm lấy. Quý Ly khóc lạy, chỉ trời thề rằng: Nhược bằng tôi không hết sức phò vua thì con cháu tôi trời ắt hại đi. Ngày trước ông Linh Đức vương toan hại tôi, như ngài không soi xét thì tôi ngày nay đâu còn, xin ngài biết lấy bụng tôi chớ khá hồ nghi.



NHỮNG BÀI GIỚI THIỆU CỦA THÀNH VIÊN KHÁC

Việt sử diễn nghĩa được viết bằng chữ Nôm ra đời vào đầu thế kỷ XX là sự kế thừa và tiếp nối truyền thống phổ biến lịch sử đến đông đảo quần chúng dưới dạng thể tài sử ca. Xem tiếp

Xem thêm

Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


SÁCH KHÁC CÙNG LĨNH VỰC



Xem tiếp



Sách do đơn vị xuất bản tuyển chọn và giới thiệu

Thế lưỡng nan của nhà cải tiến Cuốn sách này viết về sự thất bại của các công ty hàng đầu trong một số ngành công nghiệp khi họ đối mặt với một số loại hình thay đổi của thị trường ...
Xem tiếp


Gửi email cho bạn bè