Ngày đăng : 07/05/2009

Người Giới Thiệu: Trường Nguyên

The Return of Depression Economics

The Return of Depression Economics

Tác giả Paul Krugman
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Lĩnh vực Kinh tế - Quản trị
Năm xuất bản 2008
Đơn vị xuất bản W.W. Norton
Số trang 191
Làm sao mua: ISBN-10: 0393071014 - Amazon.com

Trong cuốn Principles of Political Economy, John Stuart Mill viết, chúng ta thường nghe nói chính quyền cần phải tự giới hạn vào việc bảo vệ người dân chống lại bạo lực và lừa đảo; ngoài ra người dân phải được hoàn toàn tự do để có thể tự mình lo toan cho chính mình. Nhưng tác giả lại tự hỏi, trước các tai ương của kinh tế thị trường, tại sao người dân lại không được chính quyền bảo vệ sâu rộng hơn nữa - có nghĩa là bởi sức mạnh tập thể của chính họ? 


Cũng như Mill, Paul Krugman, người được giải Nobel kinh tế năm 2008, rất tán thưởng các canh tân, nhưng không thích những cuộc khủng hoảng, do chủ nghĩa tư bản đem lại. Krugman nghĩ, chính quyền phải có trách nhiệm tạo điều kiện dễ dàng cho canh tân và bảo vệ người dân chống lại khủng hoảng. Krugman không tin người dân có thể được giới tài phiệt, ngay cả phần đông các kinh tế gia, che chở và bảo vệ, trừ phi chúng ta phải tìm hiểu thấu đáo những trò chơi tinh vi, xảo quyệt để giúp các nhà lập pháp đạt được đồng thuận về phương cách quy định, giám sát. Mill nghĩ chúng ta phải thấu triệt tính động của kinh tế chính trị chứ không chỉ tính tỉnh của môn học này. 


Chính vì vậy, trong hai mươi năm qua, Krugman đã miệt mài theo dõi các mô hình, phân tích các con số, và đưa ra nhiều cảnh báo, như trong tác phẩm bị đánh giá một cách hết sức sai lầm - The Return of Depression Economics (1999), một tác phẩm hàng đầu về sự sụp đổ tài chánh của Nhật, các con rồng Á châu, và châu Mỹ La Tinh, rõ ràng với mục đích cảnh báo người Mỹ về những nguy cơ cho chính họ. Tác phẩm đã ra đời vào một thời điểm cực kỳ bất lợi, vào đúng cuối thiên niên kỷ thứ hai. Cuộc cách mạng kỹ thuật đang nở rộ, Google vừa tròn một năm tuổi, và Enron được liên tiếp bầu chọn là công ty đáng khen ngợi trong bốn năm liền. Cùng lúc, ngân sách thặng dư, Tòa Bạch Ốc, Clinton, Cục Dự Trữ Liên Bang và Quốc Hội, đều nhất trí: quy định và giám sát credit default swaps là một sỉ nhục đối với tính chuyên nghiệp của giới ngân hàng đầu tư. 


Còn đối với các vấn đề gần đây đã gây khó khăn cho các nền kinh tế trên thế giới thì sao? Phải chăng Wall Street đang ôn tập cuộc thoái trào của Nhật? Các định chế tài chánh mang nặng tính chính trị  của Mexico? Quản trị viên nào của một công ty bảo hiểm Hoa Kỳ, luôn đầy đủ thông tin, và luôn trung thành với giá trị của cổ đông, đã cho phép ban quản lý nhận bảo kê cho các vụ cá cược, hay các giao dịch đầy rủi ro bất trắc, chẳng chút dè dặt? Và các vị tổng thống liên tiếp của Hoa Kỳ cũng làm ngơ! Người ta bảo Krugman chẳng hiểu gì hết. 


Trong thực tế, tác phẩm The Return là cuốn sách cuối cùng Krugman xuất bản trước khi viết bài cho trang biên tập của báo The New York Times, trong đó tác giả kiên trì kêu gọi phải minh bạch, giản dị, và bảo đảm an toàn cho giới làm công. Krugman vận động tích cực thiết lập một chương trình bảo hiểm y tế quốc gia cho toàn dân; đả kích biện pháp giảm thuế của Dick Armey và những vận động thầm lén của Karl Rove. Sau cuộc tuyển cử 2004, Krugman đã đơn thương độc mã gây áp lực buộc các dân biểu, nghị sĩ Cộng Hòa đang do dự, phải từ bỏ đề nghị của Bush cho phép Aunt Sheila tự mình đầu tư một phần tiền an sinh xã hội của bà vào thị trường chứng khoán. Từ năm 2006, Krugman đã là người khởi xướng phục hồi lý thuyết Keynes; và từ hơn một năm nay, đã sớm cảnh báo một cuộc khủng hoảng kiểu Argentina đang rình rập, vì lẽ các nhà đầu tư toàn cầu không sớm thì muộn sẽ hiểu: ngay cả người Mỹ cũng không thể thu hút hết số tiết kiệm thặng dư trên thế giới; và các thủ thuật, tinh vi thì ít mà ngụy xảo thì nhiều, trên các các thị trường tài chánh Hoa Kỳ. 


Trong cuốn The Return, được cập nhật, Krugman muốn lặp lại những luận cứ đưa ra từ lâu: một định chế tài chánh chúng ta không dám để cho phá sản hay thất bại, chúng ta cũng không thể để tự tung tự tác, thiếu quy định và giám sát; một cộng đồng xã hội phải sử dụng quyền chi tiêu và đầu tư và nhất là để hỗ trợ phát triển khi các thị trường ít nhiều tự do cũng ít nhiều khó tránh làm chúng ta thất vọng. 


Cuốn The Return chỉ dày 191 trang nhưng tác giả lại rất tham vọng, một lúc bàn đến ba vấn đề đang được tranh cãi. 


Đề tài thứ nhất phác họa phương cách các thị trường tài chánh Á châu và châu Mỹ La Tinh đã gây ra những cuộc thoái trào bất thần, hay những vòng xoáy lạm phát, hay những nạn phá giá tiền tệ, hay cùng lúc tất cả những tai họa đó. Nhiều chính quyền, ngay cả những chính quyền cố gắng theo đuổi những quy luật thuế khóa tài chánh bảo thủ, phải đối đầu với những lựa chọn gay cấn: hoặc từ chối in thêm tiền, ráng chịu đựng thoái trào và để người dân gặp nhiều khó khăn tức khắc; hoặc in thêm tiền, làm nản lòng giới đầu tư, và để người dân phải chịu hậu quả trong tương lai. 


Loại bút chiến thứ hai vạch rõ những đường song song giữa những gì đã xảy ra và có thể xảy ra - trong thực tế, những gì đang xảy ra - ở Mỹ, ở Âu châu và những xứ phát triển trên thế giới, cho thấy những xáo trộn sắp xảy ra và những giải pháp cần theo đuổi. Krugman chán ngán khi nghĩ đến các kinh tế gia, nhất là Ben Bernanke, một đồng nghiệp ở Đại Học Princeton, người luôn tin tưởng các quan chức thuộc Bộ Ngân Khố và Cục Dự Trữ Liên Bang đã thành công trong việc khai triển các phương sách giảm thiểu bất quân bình kinh tế đến mức các qui định và giám sát không còn cần thiết, và từ chu kỳ kinh tế đã trở thành lỗi thời.  


Vấn đề gây tranh cãi thứ ba là những luận cứ rải rác trong toàn bộ tác phẩm liên quan đến phương cách các thay đổi trong nền kinh tế đích thực - những doanh nghiệp sản xuất, vận chuyển, thiết kế mọi thứ hàng hóa - đã định hình hay được định hình bởi các thị trường tài chánh như thế nào. Nhất là bằng cách nào các thay đổi mang tính cách mạng trong kỹ thuật tin học - đầu mối những thay đổi trong cấu trúc các công ty và các điều kiện cạnh tranh - đã đem lại một mô hình tài chánh thay đổi? Hoặc bằng cách nào những thay đổi vừa nói có thể đưa đến một lề lối điều hướng mới (revised superintending) các chu kỳ kinh tế? Chẳng hạn Krugman cho rằng sự kiện toàn cầu hóa các thị trường kỹ nghệ và năng suất cao hơn của các thị trường nầy - cả hai là kết quả của một kế hoạch thiết bị tin học sâu rộng mới mẻ (a new and pervasive information platform) - đã có thể biện minh cho sự đề kháng của Greenspan không chịu tăng lãi suất sau những tăng gia chi phí đầu tư quá đáng và bất hợp lý đưa đến bong bóng dot-com, mặc dù cả hai hiểu rất rõ lãi suất thấp chắc chắn sẽ duy trì giá trị bất động sản ở một mức cao giả tạo- do đó, sẽ khiến bong bóng trở nên trầm trọng hơn. Krugman viết, vào thập kỷ 1990s, kỹ nghệ tin học rõ ràng đã làm thay đổi hẳn toàn bộ nền kinh tế Hoa Kỳ. 


Tuy nhiên, Krugman cũng chẳng mất nhiều thì giờ xét xem kỹ thuật mới đã vận hành hay lan tỏa như thế nào, đẩy nhanh các doanh nghiệp lớn hay hạ thấp rào cản đối với các xí nghiệp nhỏ ra sao. Theo ông, điều quan trọng là vẻ hào nhoáng của kỹ thuật đầy ấn tượng, tính lãng mạn của kỹ nghệ mới của Hoa Kỳ - sự kiện các doanh nghiệp mới với công nghệ cao đem lại ấn tượng tốt, đáng ngợi khen cho giới doanh nhân, một ấn tượng chưa từng có trong hơn một thế kỷ vừa qua. Bức tường Bá Linh đã sụp đổ, các tạp chí doanh thương được nhiều người thích đọc; ngay cả những lý thuyết gia kinh tế cực đoan cũng bị thu hút bởi trào lưu lạc quan mới đối với chủ nghĩa tư bản. Ở đây, luận cứ của Krugman chỉ liên quan đến nhận thức và tâm lý. Điều Krugman quan tâm chính là những dấu vết để lại bởi các nhà đầu tư hành động căn cứ trên những thay đổi họ tin đã xảy ra trong môi trường thương mãi. Điều ông chú ý nhiều nhất là chính quyền có thể đối phó như thế nào với các thái quá tiếp theo. 


Sự sắc bén của Krugman khi giải thích những bất cập của chủ nghĩa tư bản - sự sụp đổ của đồng baht ở Thái Lan, tình trạng tham nhũng của PRI ở Mexico - đã là lý do đủ để đọc tác phẩm; những chương đó sẽ gây bối rối cho các người hậu thuẫn chính sách laissez-faire, các biện pháp khắc khổ của IMF, và các đường biểu diễn của Laffer. Tuy nhiên, chưa hẳn Krugman và các nhà kinh tế học vĩ mô đã đánh giá đúng đắn ảnh hưởng của cuộc cách mạng kỹ thuật đối với nền kinh tế đích thực trong những năm gần đây. 


Cách đây vài chục năm, Arie Lewin thuộc Đại Học Duke, đã khám phá: phải mất 13 năm 1/3 số doanh nghiệp Fortune 500 mới bị thanh lọc khỏi nhóm - thất bại hoặc bị sáp nhập bởi các công ty khác. Trước cuộc khủng hoảng hiện nay, việc nầy chỉ cần 4 năm. Hai thế hệ trước đây, mỗi năm khoảng 60.000 doanh nghiệp  được sáng lập ở Hoa Kỳ; trước cuộc khủng hoảng hiện nay, con số lên gần một triệu. Năm 1999, 70% giá thị  trường của các doanh nghiệp kỹ thuật được xếp vào loại tích sản vô hình - uy tín, khả năng canh tân... - và hơn 50% lợi nhuận bắt nguồn từ kỹ thuật mới du nhập trong năm trước. Những đổi thay này không những là nguyên do thay đổi nền kinh tế mà cũng là nguyên nhân đưa đến những biến động tài chánh toàn cầu cũng như phương cách đáp ứng hiệu quả của chính quyền, và những gì khiến suy thoái trở thành khủng hoảng hay đại khủng hoảng.  


Theo Krugman, những gì những biến động tài chánh như vậy cần đến là một sự điều hướng hay những nhân viên kiểm tra của chính quyền để tạo những đối trọng bù trừ: một ngân hàng trung ương để điều chỉnh lãi suất, hoặc nâng cao hoặc hạ thấp, thực tế là ấn định khối tiền tệ lưu hành, hoặc một bộ tài chánh để ấn định một hối suất cố định hay thả nổi đơn vị tiền tệ theo luật cung cầu. 


Điều gây ra tranh cãi là sự nghi ngờ căn bản của Krugman về chính sách tiền tệ bảo thủ của IMF trong những trường hợp như thế, một thái độ được nhiều độc giả công bằng chia sẻ.

 

Hầu hết phần còn lại của tác phẩm The Return là một loạt các câu chuyện về những nổ lực can thiệp của chính quyền. Krugman đơn cử những xứ bị xáo trộn bởi các cuộc khủng hoảng trong hai thập kỷ 1980s và 90s - Mexico, Argentina, Nhật, Thái Lan và Indonesia. Trong mỗi trường hợp, người ta nhận thấy một diễn tiến vòng tròn đáng ngại - các vấn đề tài chánh khó khăn của các công ty, ngân hàng và mọi gia đình; đưa đến một sự mất lòng tin rộng khắp trong giới đầu tư, thường là giới đầu tư ngoại quốc; đến sự sụp đổ tiền tệ, lãi suất lên cao, kinh tế đình trệ, những khó khăn tài chính của các công ty, các ngân hàng và cứ thế tiếp tục.


Nguyễn Trường



NHỮNG BÀI GIỚI THIỆU CỦA THÀNH VIÊN KHÁC

Krugman muốn lặp lại những luận cứ đưa ra từ lâu: một định chế tài chánh chúng ta không dám để cho phá sản hay thất bại, chúng ta cũng không thể để tự tung tự tác, thiếu quy định và giám sát; một cộng đồng xã hội phải sử dụng quyền chi tiêu và đầu tư và nhất là để hỗ trợ phát triển khi các thị... Xem tiếp


Xem thêm

NHỮNG BÌNH LUẬN CỦA THÀNH VIÊN

Voi Voi
Chính xác là như vậy đấy bác Long ạ! Xe phải có ga, có phanh, hình ảnh liên tưởng thật gần gũi!
Mà không chỉ kinh tế học đâu, cái gì trên đời này cũng thế mà thôi!

Hình như có một vòng lẩn quẩn.

Chính quyền can thiệp thái quá khiến kinh tế đình trệ. Bị phê phán, các nhà cai trị quay ra chủ trương "Thị trường tự điều chỉnh", và chính quyền không can thiệp nữa.

Tới lượt các doanh nghiệp, trong cuộc khủng hoảng hiện nay là khối tài chính, bèn "phóng hết ga", coi thường mọi yêu cầu an toàn cơ bản của ngân hàng. Kết quả là "lật nhào"

Xe phải có bên ga bên thắng. Thắng nhiều quá thì không chạy nhanh được. Nhưng thả ga thì lật xe như chơi!!!

Keynes, Krugman chủ trương nhà nước can thiệp mạnh

Greenspan chủ trương thị trường tự điều tiết.

Chẳng ai sai chẳng ai đúng. Vấn đề là "can thiệp ở mức độ nào"!!!


Xem thêm

Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


SÁCH KHÁC CÙNG LĨNH VỰC



Xem tiếp





Gửi email cho bạn bè