Ngày đăng : 23/03/2009

Người Giới Thiệu: Nguyễn Huy Tưởng

Lá cờ thêu 6 chữ vàng

Lá cờ thêu 6 chữ vàng

Tác giả Nguyễn Huy Tưởng
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Thiếu nhi
Đơn vị xuất bản Khác
Số trang -1

“Trần Quốc Toản phải viết như thế mới xứng"(1)

Cuối tháng 3-1959, tôi về Nhà xuất bản Kim Đồng làm biên tập thay chân chị Cẩm Thạnh. Tôi được biết anh Nguyễn Huy Tưởng qua một buổi họp cộng tác viên của Nhà xuất bản. Hồi đó, đương in cuốn Kể chuyện Quang Trung của anh Tưởng. ở bìa 3, tôi có viết bài về thành Lục Niên. Sách ra, một hôm anh Tưởng gặp tôi và hỏi về cái mẩu nhỏ ấy. Anh bảo: “Tốt đấy”, và nói thêm: “Truyện lịch sử nên có những cái như thế”.

Một ngày vào khoảng cuối năm, tôi đến nhà anh để nhờ anh viết cho truyện tranh Trần Quốc Toản. Thấy anh đi vắng, tôi viết một lá thư gọn để gửi lại: “Tôi đến để nhờ anh viết cho lời một tập tranh truyện về Trần Quốc Toản, độ 16 tranh”. Mấy hôm sau, tôi đi công việc gì đó, trở về cơ quan, thấy anh Tưởng đương ngồi nói chuyện với anh Cao Ngọc Thọ và anh Võ Quảng trong phòng. Anh Thọ vẫy tôi vào. Thì ra các anh đương trao đổi về việc viết truyện Trần Quốc Toản. Anh Tưởng nói sẽ viết một cuốn tiểu thuyết cho lứa tuổi lớn chứ không phải tranh truyện cho nhi đồng, vì theo anh thì Trần Quốc Toản phải viết như thế mới xứng. Sau đó, anh đưa cho tôi một mảnh giấy và nói: “Sau Trần Quốc Toản, sẽ viết tiếp về những nhân vật này”. Rất tiếc mảnh giấy ấy không còn nữa và tôi cũng không nhớ được đầy đủ, có đến 6, 7 người: Trần Nhật Duật, Yết Kiêu, Dã Tượng, Lý Thường Kiệt...

Khoảng đầu tháng 4-1960, anh cầm bản thảo đến Nhà xuất bản đưa cho tôi. Hầu như tất cả ban biên tập đều đọc và anh Cao Ngọc Thọ họp ban biên tập để trao đổi trước khi làm việc với tác giả. Anh em phát biểu rất nhiều ý kiến vì ai cũng đọc kỹ. Anh Thọ giao cho tôi tổng hợp ý kiến để làm việc với tác giả, với lý do là từ đầu tôi đã trực tiếp bàn bạc với tác giả về bản thảo này. Tôi tỏ ý ngại, anh Thọ vừa động viên vừa kiên quyết: “Anh Tưởng dễ nói chuyện, cứ dựa vào ý kiến tập thể mà trao đổi”.

Hồi đó, dẫu sao thì tôi cũng chỉ mới vào nghề biên tập được một năm, nghiệp vụ chưa hết ngỡ ngàng. Vốn liếng văn học của tôi chẳng được từ một trường đại học nào, mà chỉ là của bậc trung học, lại dở dang, hồi Pháp thuộc; về lịch sử, thì là cái vốn của một giáo viên tiểu học với ý thức phải biết 10 để dạy 1, nghĩa là linh tinh đủ thứ nhưng không đều, không sâu. Tôi đến gặp anh Tưởng, trình bày trước hết là ý kiến tập thể rồi tới một số ý vụn vặt của riêng mình. Tôi đưa lên mấy ý minh họa, ý thứ nhất “chính xác lịch sử”: Có đúng là quân của Trần Quốc Toản viết lên vai hai chữ “Sát Thát” trước nhất không? - Trong sử thì mưu “tướng thần” là của Hà Đặc, Hà Chương ở Tây Bắc, đây lại thấy là của anh em Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh ở Đông Bắc? - Có đúng là Trần Quốc Toản đã cứu Trung Thành Vương không?... Anh Tưởng nói: “Về chính xác lịch sử thì tiểu thuyết chỉ cần không mâu thuẫn với sử, mà cũng trong những cái lớn, còn thì cái gì sử sách không nói, ta có quyền nói (anh lưu ý “có quyền”). Và anh lấy một cuốn sách, giơ cho thấy: “Đây chỉ có 7 dòng trong Cương mục về Trần Quốc Toản, không sai với 7 dòng ấy là được. Sử không ghi đội quân nào thích hai chữ “Sát Thát” đầu tiên thì ta có quyền cho đội quân của Trần Quốc Toản thích đầu tiên, hoặc đội nào cũng không sao, miễn nói cho hợp lý. - Mưu “tướng thần” theo sử ghi lại thì do Hà Đặc, Hà Chương ở Tây Bắc, nhưng đã là mưu thì người khác và ở nơi khác cũng có thể nghĩ và làm được, hoặc bắt chước cũng được. Đưa Trần Quốc Toản lên Tây Bắc có thể không thuận với lịch sử, còn mưu “tướng thần” thì đưa đi đâu (cho Trần Quốc Toản gặp) cũng được. Và đừng đưa anh em Hà Đặc, Hà Chương đem mưu “tướng thần” của họ sang Đông Bắc là được...” Vấn đề thứ hai là: “Liệu có quá đề cao Trần Quốc Toản, làm mờ các vị anh hùng khác không? Thấy Trần Quốc Toản nổi quá, có vẻ át mất các vị ấy! Ta chưa có những truyện lịch sử về các vị ấy, các em chưa hình dung được tài năng của họ, bây giờ thấy Trần Quốc Toản tài giỏi thế này e sẽ đánh giá không đúng các vị ấy, dẫn đến nhìn nhận sai về lịch sử”. Anh Tưởng lắng nghe và nhìn tôi như có chút ngạc nhiên (phải chăng anh nghĩ: “Sao lại sơ đẳng thế nhỉ?”). Nghe xong, anh nói: “Tiểu thuyết thì có nhân vật, có sự kiện... Viết về nhân vật hay sự kiện nào thì tập trung đưa nổi nhân vật hoặc sự kiện ấy lên. Đưa nổi ở đây là đưa nổi hình tượng, tính cách nhân vật... Còn nếu các anh chỉ có thắc mắc về tài của Trần Quốc Toản quá nổi thì khó gì! Ta có thể giảm bớt, ví dụ đừng cho Trần Quốc Toản bắn Toa Đô nữa mà để cho Nguyễn Khoái bắn. Nguyễn Khoái cũng là một dũng tướng!” Và anh lại nhìn tôi một cách khác: “Thế nào? Được chứ?” Tôi đáp: “Đây là ý kiến tập thể, tôi xin phản ánh lại, và nếu anh để cho Nguyễn Khoái bắn Toa Đô thì theo ý riêng tôi là tốt!” Anh cười (không phải là cười to): “Còn gì nữa không?” Tôi nói lại những ý anh em đã trao đổi. Anh lắng nghe và phân tích cho tôi hiểu từng điểm. (Tôi nhắc lại đây không đúng hẳn lời anh Tưởng từng câu từng chữ, dù có đóng ngoặc kép, mà chủ yếu giữ đúng ý của anh). Tôi đưa bản thảo để anh nghiên cứu sửa. Mấy hôm sau, anh đưa đến cho tôi và bảo: “Tôi đã sửa như đã trao đổi. Cho đến khi sách ra, không phải trao đổi sửa chữa gì nữa chứ?”

Một hôm, anh Huy Lan (phụ trách quản trị cả hai nhà xuất bản Thanh niên và Kim Đồng) nói với tôi: “Trong một buổi họp mặt anh em văn nghệ sĩ bên Hội Nhà văn, anh Tưởng có nói: “Bản thảo Lá cờ thêu sáu chữ vàng là một sự nhân nhượng mẫu mực giữa tác giả và nhà xuất bản”, không biết có ý gì phê phán nhà xuất bản không?” Về phần tôi, tôi không cho là mình đã làm tốt công tác biên tập với tác giả, nhưng tôi tin là anh Tưởng không nói với ý giễu cợt, anh không phải người như thế!

Mỗi lần gặp anh, không phải chỉ có những chuyện về Lá cờ thêu sáu chữ vàng, anh còn nói nhiều chuyện khác về văn, về sử, về trẻ em..., có lần cả về cách dùng từ. Anh đưa cho tôi xem một bài của ai đó và lưu ý tôi hai từ “đi lại”. Anh bảo dùng như thế này có thể gợi sang ý khác không tốt (hiểu theo quan hệ trai gái). Anh rất say sưa nói về chuyện Hà Nội. Anh kể cho tôi nghe những chuyện của Hà Nội như Đền ông Hậu (Phúc Hậu), tướng Đá Dãi, v.v... Anh rất muốn viết một cuốn sách về Hà Nội cho các em. Thế rồi, anh hỏi tôi, thân mật: “Theo anh thì nên viết như thế nào, tôi chưa nghĩ ra được một hình thức thích hợp”. Tôi cũng không nghĩ đến là anh hỏi tôi như thế, hỏi cái ý giúp anh gỡ một cái “bí” của anh. Tôi vẫn có ít nhiều mặc cảm: Mới vào nghề xuất bản mà qua anh em ở Nhà xuất bản thì thấy anh Tưởng “lớn quá” trước mắt tôi. Nhưng tôi linh cảm đó là một câu hỏi thân tình, tin cậy của một con người ý thức rất rõ về tài đức bản thân, không phải là khiêm tốn mà cũng chẳng phải là thăm dò... Và thế là tôi bỗng biến mất cái mặc cảm, tôi nói với anh chân thành và vững vàng: “Anh thử viết như kiểu du ký, hay là như Tour de France (Vòng quanh nước Pháp), hay là... Anh có cháu đương học ở nước ngoài, anh lấy hình thức viết thư cho cháu, mỗi tháng một bức thư nói về Hà Nội...” Anh gật gật đầu: “Cũng được đấy, tôi sẽ thử”.

Thế rồi tôi cũng quên bẵng câu chuyện ấy (lại có thể vì mặc cảm?). Một hôm, tôi đi từ cơ quan qua ngã tư Bà Triệu - Lý Thường Kiệt thì gặp anh đứng đó, trên hè bên số chẵn. Tôi chào và nói với anh Lá cờ thêu sáu chữ vàng đã đưa in. Anh hỏi mấy câu, dặn đưa anh xem mo-rát rồi nói: “Tôi đã viết hai lá thư, nói về Hà Nội, cũng được đấy (chắc là ý anh muốn nói hình thức ấy được đấy, chứ không tự khen), lúc nào anh đến chơi xem thử”. Không hiểu có công việc gì mà tôi chưa đến được! Thì bỗng một hôm, chị Uyên (vợ anh Tưởng) đến Nhà xuất bản đưa cho tôi thư của anh, nói tôi đưa anh xem mo-rát Lá cờ thêu sáu chữ vàng. Mo-rát đương ở nhà in, tôi hẹn với chị Uyên sẽ lấy về ngay để đưa anh xem. Hôm sau (hay một vài hôm sau, tôi không nhớ đúng), khoảng gần trưa, tôi tình cờ trong phòng làm việc đi ra thì vừa thấy chị Uyên đến, mặt buồn rầu. Tôi nói ngay với chị: “Chị ạ, mo-rát mới lấy về...” Chưa hết câu thì chị ứa nước mắt bảo tôi: “Anh ơi, bây giờ thì còn xem gì nữa! Nhà tôi nguy lắm rồi!” Anh Cao Ngọc Thọ vừa ra sau tôi, thoáng nghe, quay vội vào giục chị Liễu thủ quỹ: “Tạm ứng ngay 500 đồng, tạm ứng ngay, chưa cần giấy tờ gì cả!” rồi quay trở ra hỏi thăm và nói với chị Uyên. Giây phút ngắn ngủi ấy nó đọng lại thật đậm trong ký ức tôi, trước đó là gì tôi không nhớ, sau đó là gì tôi cũng không nhớ nữa! Nó như một làn chớp lóe lên trên một cuốn phim mới chụp chưa tráng, nó xóa sạch, chỉ còn có nó thôi! Hình ảnh chị Uyên, nét mặt, tiếng nói chị Uyên, bây giờ tôi vẫn thấy rõ như hôm đó!

Tôi cứ nghĩ rằng anh Nguyễn Huy Tưởng ra đi chưa đành lòng với Lũy HoaSống mãi với Thủ đô dang dở, mà cũng có thể, với cả những lá thư về Hà Nội chưa viết được cho thiếu nhi, đem cái yêu quý của mình cho các em nhỏ mà anh rất đỗi yêu quý, rất hiểu và trân trọng. Ai sẽ là người thay anh? Cho đến bây giờ, bốn chục năm đã qua, cả nước đã có hàng ngàn đầu sách cho thiếu nhi mà vẫn chưa có một cuốn nói với các em về Hà Nội, về Thủ đô yêu dấu và tự hào, như anh Tưởng mong muốn và cố gắng thực hiện. Phải chi anh sống khỏe mạnh thêm độ một năm nữa, không, chỉ cần nửa năm, thậm chí ba tháng nữa thôi, với hai lá thư mở đầu (mà anh đã cho là “cũng được đấy”) và với tình cảm và tài năng của anh, chắc chắn điều mong muốn ấy của anh phải trở thành hiện thực!

(1) Đầu đề do người biên soạn đặt. Tên bài viết ban đầu là: Cảm nhận về anh Nguyễn Huy Tưởng qua công việc biên tập Lá cờ thêu sáu chữ vàng.

 

Hoàng Nguyên Cát

 

 

 

 


 



NHỮNG BÀI GIỚI THIỆU CỦA THÀNH VIÊN KHÁC

Cuối tháng 3-1959, tôi về Nhà xuất bản Kim Đồng làm biên tập thay chân chị Cẩm Thạnh. Tôi được biết anh Nguyễn Huy Tưởng qua một buổi họp cộng tác viên của Nhà xuất bản. Hồi đó, đương in cuốn Kể chuyện Quang Trung của anh Tưởng. ở bìa 3, tôi có viết bài về thành Lục Niên. Sách ra, một hô... Xem tiếp


Xem thêm

Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


SÁCH KHÁC CÙNG LĨNH VỰC



Xem tiếp





Gửi email cho bạn bè