Ngày đăng : 29/01/2008

Người Giới Thiệu: Chu Hảo

Thi nhân Việt Nam

Thi nhân Việt Nam

Tác giả Hoài Thanh - Hoài Chân
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Lĩnh vực Văn học Việt Nam
Năm xuất bản 2005
Đơn vị xuất bản Văn học
Giá sách 34.000 VND
Số trang 408

Có lẽ trong nền tri thức nước nhà, chưa có công trình nào tổng kết một giai đoạn, một trào lưu văn, hoặc thơ tài tình như cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh. Phải công phu và tài lắm mới có thể chọn trong hàng vạn bài thơ của khoảng bốn ngàn người có thơ đăng báo, in sách trong khoảng mười năm phong trào thơ mới (1932 - 1941) để chỉ giữ lại khoảng 169 bài của 46 tác giả và bình phẩm. Phải ở tầm tri thức cao lắm mới có thể am hiểu để mà so sánh thời đại thi ca từ Tản Đà về trước cùng thời đại thi ca mới với những “... hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên,... và tha thiết, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu”.


 

Khi nói về ảnh hưởng của nền thi ca lãng mạn và tượng trưng của Pháp đến phong trào thơ mới nước ta, ông có ý phàn nàn: “Mỗi nhà thơ Việt Nam hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp”. Nhưng rồi ông lại phân bua rằng, ấy chỉ vì ông “tìm ảnh hưởng để chia xu hướng”, chứ thực sự thì: “Tiếng Việt, tiếng Pháp khác nhau xa. Hồn thơ Pháp nếu chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn... Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam...”. Nhưng có lẽ bản sắc Việt Nam được giữ gìn một cách thuần khiết hơn trong dòng thơ Đường còn sót lại, và nhất là trong dòng thơ Việt mới, Ông đã nhắc tới các nhà thơ đồng quê với một tình yêu đằm thắm. Hồn của mỗi câu thơ, mỗi bài thơ được Ông cảm thụ một cách hết sức tinh tế để nhận ra rằng: “Nguyễn Bính nhà quê hơn cả nên chỉ ưa sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê. Anh Thơ không nhà quê chút nào. Anh Thơ là người thành thị đi du ngoạn nên chỉ thấy cảnh quê... Nhưng cảnh quê của Anh Thơ thì bình dị, còn của Đoàn Văn Cừ thì rực rỡ. Tình quê của Nguyễn Bính được nuôi dưỡng bằng hồn xưa của đất nước mộc mạc, chân thành; còn của Bàng Bá Lân là tình của những người... không đủ can đảm sống lam lũ như những người dân quê thực, nhưng thành thị thì họ đã chán ghét lắm rồi.”


 

Sau mười năm nhìn lại phong trào Thơ mới, tác giả Thi nhân Việt Nam đã chắt lọc, nâng niu và làm sống động thêm những dòng thơ mà Ông rung cảm, bất kể của ai, Ông thích hoặc không thích, nổi tiếng hoặc không nổi tiếng. Ông nói chân tình: “... tôi chẳng muốn chê ai và cũng chẳng muốn khen ai, tôi chỉ muốn hiểu cho đúng - không phải cho đủ - hình sắc những hồn thơ”. Những hồn thơ mà Ông nói ở đây là những hồn thơ mới: mới trong cách thể hiện phóng túng, không theo niêm luật như thơ cũ, và mới trong tư duy: lấy chữ TÔI (rất cá biệt trong nền thơ mới) thay cho chữ TA (rất chung chung trong nền thơ cũ).


 

Sau mỗi hồn thơ là một con người cụ thể - Nhà thơ. Với mỗi nhà thơ, Ông đều dành cho một tình cảm đặc biệt. Ông thương xót Hàn Mặc Tử đến não lòng: “Cảnh cơ hàn ấy và chứng bệnh kinh khủng ấy đã bắt người phải chịu bao nhiêu cảnh phũ phàng, bao nhiêu ruồng rẫy... bao nhiêu năm người bó tay nhìn cả thể phách lẫn linh hồn cùng tan rã... Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hững hờ bỏ quên, bây giờ mất rồi ta xúm lại kẻ chê, người khen. Chê hay khen tôi đều thấy có gì bất nhẫn”. Ông trân trọng Chế Lan Viên (lúc viết tập Điêu tàn mới mười sáu tuổi), người đã đau quằn quại nỗi đau của người Chiêm Thành xưa để “... xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị... Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế thứ 20, nó đưng sùng sững như một Tháp Chàm chắc chắn, lẻ loi, bí mật...”. Ông thừa biết “Nguyễn Vĩ đã đến giữa làng thơ với chiêng chống, xập xoèng inh cả tai...., đã muốn lòe những kẻ tầm thường như bọn ta bằng những vần thơ táo tợn và sáo rỗng”, nhưng Ông vẫn cảm thông và biểu dương một cách chân thành: “Một bài thơ như Sương rơi đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để tả một cái gì đang rơi... những giọt sương ... những giọt lệ... hay những giọt gì vẫn rơi đều đều, chầm chậm trong lòng ta mỗi lúc ta vơ vẩn buồn, ta đứng một mình trong lặng lẽ”.


 

Tất cả những cảm nhận trên đây đã đưa tôi đến một niềm tin chắc chắn rằng: Ông Hoài Thanh đã quan niệm Thơ không chỉ vì Thơ mà trước hết còn vì cuộc sống, vì Con người! Ở Ông, tình yêu thơ cũng là tình yêu con người với mọi góc cạnh lung linh của tâm hồn; là tình yêu cuộc sống với đầy đủ những vui, buồn thánh thiện và dung tục.


 

Chắc chắn là Ông đã cho rằng, thơ trước hết phải hay, phải làm rung động lòng người. Câu thơ của Bích Khê mà ông cho là “hay vào bậc nhất trong thơ Việt Nam”:


 

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

            Vàng rơi! Vàng rơi! thu mênh mông


 

Chỉ đơn giản là rất, rất hay; chứ ta không hề biết là nó vì cái gì và vì ai. Nhưng ngược lại, khi khen ngợi thơ của Chế Lan Viên là trước hết Ông ca ngợi tinh thần nhân văn cao thượng của nhà thơ, dầu không mang họ Chế, nhưng đã vẫn là một nhà thơ Chiêm Thành để khóc thương cho số phận một dân tộc đã bị chinh phục đến bị tiêu diệt ấy.


 

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi

Những đền xưa đổ nát dưới thời gian

Những sông vắng lê mình trong bóng tối

Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than...


 

Và đây nữa, khi viết về thơ Nguyễn Bính, Ông đã có những lời hết sức xúc động: “Ở mỗi chúng ta đều có một người nhà quê, cái nghề làm ruộng và cuộc đời bình dị của người làm ruộng cha truyền con nối từ nghìn năm đã ăn sâu trong tâm trí chúng ta... Nhưng những cám dỗ và phiền phức của cuộc đời mới đã làm ta dần quên cái chất nhà quê ấy”... và, “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn còn ẩn náu trong lòng ta. Ta vẫn thấy vườn cau, bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta”. Như vậy, Hoài Thanh đã khẳng định rằng, thơ của Nguyễn Bính là thứ nghệ thuật vị nhân sinh. Ông tin rằng, những vần thơ của Nguyễn Bính, chẳng hạn như những vần thơ sau đây, phải được sánh với những câu ca dao mà dân quê thường quen hát quanh năm:


 

 

Nhà em có một giàn giầu

Nhà anh có một giàn cau liên phòng

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

 

Lòng anh giếng ngọt trong veo

Giăng thu trong vắt biển chiều trong xanh

Lòng anh như bụi kinh thành

Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe.


 

Hoài Thanh bảo rằng, những câu thơ ấy đã mang lại cho chúng ta “một điều mà người ta không thể hiểu được bằng lý trí, một điều quý vô ngần: Hồn xưa của đất nước”.


 

Một người quan niệm về thơ như thế, nói về thơ như thế, mà lại đã từng mang tiếng rằng chủ chương Nghệ thuật chỉ vì Nghệ thuật thì thật là oan uổng lắm thay!



NHỮNG BÀI GIỚI THIỆU CỦA THÀNH VIÊN KHÁC

Phải ở tầm tri thức cao lắm mới có thể am hiểu để mà so sánh thời đại thi ca từ Tản Đà về trước cùng thời đại thi ca mới với những “... hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên... Xem tiếp


Xem thêm

Đăng ký hoặc Đăng nhập để được bình luận


SÁCH KHÁC CÙNG LĨNH VỰC



Xem tiếp





Gửi email cho bạn bè